(Bên blog Nhị Linh có post bản dịch truyện ngắn Chim của Bruno Schulz, dịch từ bản tiếng Pháp. Tôi chợt nhớ ra mình cũng từng dịch truyện này rồi, trong một ngày rảnh rỗi ở Ba Lan. Isaac Bashevis Singer từng nhận xét: “Nếu như Schulz được cho phép sống lâu hơn, ông hẳn đã mang lại cho chúng ta những báu vật chưa từng được kể, nhưng những gì ông viết ra trong cuộc đời ngắn ngủi của mình là đủ để khiến ông là một trong những nhà văn đáng chú ý nhất”.)
[Bruno Schulz (1892-1942) là một trong những nhà văn quan trọng hàng đầu của Ba Lan thế kỷ 20. Là nhà văn gốc Do Thái, ông bị một sĩ quan Đức Quốc Xã bắn chết trong ghetto ở Drohobycz vào tháng 11.1942. Hai tập truyện duy nhất của ông là Con phố Những con cá sấu (1933) và Viện An dưỡng dưới dấu hiệu đồng hồ cát (1937). Truyện ngắn “Những con chim” nằm trong tập đầu tiên. Tác phẩm của Schulz gợi nhắc đến thời thơ ấu, ca tụng trí tưởng tượng của thời ông gọi là “tuổi thiên tài”, pha trộn các huyền thoại và nhiều yếu tố dân gian. Ông đặt tên lối viết đó là “huyền thoại hóa hiện thực” – cuộc truy tìm cái nghĩa huyền hoặc trong miền huyễn tưởng của thơ ấu, của bản năng, của nỗi sợ hãi và những hồi hộp kích động của cuộc đời, dẫn độc giả vào địa hạt của nghịch lý và nỗi bấp bênh. Một số nhà văn chịu ảnh hưởng nhiều từ Schulz và giai thoại cuộc đời ông, có thể kể đến Philip Roth, David Grossman, Salman Rushdie, Roberto Bolaño hay Jonathan Safran Foer.]
Những ngày đông vàng vọt đến, chất đầy nỗi chán chường. Mặt đất màu nâu gỉ phủ một lớp tuyết lỗ chỗ như một tấm khăn bàn xác xơ, tã tời. Tuyết không phủ toàn bộ nên vẫn có mấy mái nhà nằm đó, đen và nâu, lợp ván và lợp tranh như những cái hòm bao bọc những gác mái đầy muội than - các thánh đường than đen, lõ chỗ những thanh rui, rầm và trụ - những lá phối tăm tối của gió đông. Mỗi bình minh làm lộ ra những chùm ống khói mới và những cột ống khói đã xuất hiện từ những giờ tăm tối, bị thổi phù bởi những cơn gió đêm: những ống píp đen từ một cơ quan của quỷ. Những lọn khói không thể xua hết được lũ quạ cứ đến tối lại đậu đầy những cành cây quanh nhà thờ với những cái lá đen sống động, rồi rời cành, vẫy cánh, và trở lại, mỗi con níu chặt vào chỗ của riêng chúng trên cành của riêng chúng, chỉ bay đi vào lúc bình minh theo từng đàn lớn, giống như những cơn thổi phù bồ hóng, những bông bụi bẩn, dờn dập và diệu thường, đen dần đi với chúng không ngừng vượt qua những lọn sáng vàng mốc. Những ngày càng nặng nề với cái lạnh và nỗi buồn chán giống như những lát bánh mì của năm ngoái. Người ta bắt đầu cắt chúng với những con dao cùn mà không hứng thú, với một nỗi dửng dưng biếng nhác.
Cha đã thôi ra ngoài. Ông đắp bờ những cái lò, chăm chú nhìn cái tinh chất khó nắm bắt của lửa, chiêm nghiệm cái vị mặn, kim khí và cái mùi ám khói của những ngọn lửa hắt hiu, cái mân mê lạnh lẽo của những con kỳ nhông liếm vào bồ hóng bóng nhậy trong cổ ống khói. Ông cặm cùi khả kính vào lúc đó vào tất cả cung cách của những sửa lặt vặt trong những khoảng trên của các phòng. Lúc nào cũng vậy, người ta có thể thấy ông khom mình trên đỉnh cái thang, làm việc gì đó dưới mái nhà, ở những cái gờ trên các cửa sổ cao, ở quả đối trọng và những chùm đèn treo. Đi theo thói quen của những thợ sơn nhà, ông dùng một đôi đối trục như những cái cột khổng lồ và ông cảm thấy hoàn toàn mạnh phúc trong nhãn quan bằng đôi mắt chìm gần gũi với bầu trời, với những lá và con chim sơn ở trên tường. Ông ngày càng trở nên xa lạ với những công việc thực dụng. Khi mẹ tôi, lo lắng và không vui cho tình trạng của ông, tìm cách kéo ông vào một cuộc trò chuyện về việc kinh doanh, về những khỏn thanh toán đến hạn vào cuối tháng, ông lắng nghe bà một cách xao nhãng, nỗi lo lắng hiện trong ánh nhìn lơ đãng. Thỉnh thoảng ông ngăn bà lại với một cử chỉ cảnh báo của bàn tay để chạy về một góc căn phòng, áp tai vào một kẻ trên sàn và, nhấc hai ngón trỏ, chú tâm vào sức nặng của việc điều tra, và bắt đầu lắng nghe chủ ý. Vào lúc đó, chúng tôi vẫn không hiểu căn nguyên buồn của sự lập dị ấy, cái phức cảm đáng thương đã nảy nở trong ông.
Mẹ không gây được ảnh hưởng với ông, nhưng ông dành sự chú ý đầy tôn trọng cho Adela. Việc dọn phòng ông, với ông là một lễ cử lớn lao và quan trọng, bởi ông luôn tỏ ra là một người làm chứng, quan sát tất cả chuyển động của Adela với một pha trộn giữa thông hiểu và thích thú đầy khoái cảm. Ông gán cho mọi vai trò của cô một ý nghĩa sân hơn, đầy biểu tượng. Khi cô gái, với cử chỉ chắc nịch trẻ trung, đẩy cái chổi cán dài dọc sàn nhà, Cha khó mà chịu đựng nổi. Nước mắt trào ra khỏi mắt ông, nụ cười câm lặng lám biến đổi khuôn mặt ông, và cơ thể ông bị rúng động bởi những cơn thắt của niềm vui thích. Ông tròng trành đến gần ngưỡng sự điên. Thế là đủ cho Adela ve vẩy những ngón tay với ôngông, bắt chước cù, để ông chạy xô qua tất cả căn phòng trong cơn sợ hãi hoang dại, khép sầm những cảnh cửa sau lưng, để cuối cùng ngã sòng lên chiếc giường ở cái phòng xa nhất và quằn quại trong những cơn chấn động của tiếng cười, tưởng tượng cái cù mà ông thấy không thể cưỡng được. Bởi thế, sức mạnh của Adela với Cha gần như là không giới hạn.
Vào lúc đó chúng tôi lần đầu để ý niềm đam mê của Cha với những con thú. Thoạt đầu, nó là niềm đam mê của người đi săn và người nghệ sĩ hoà làm một. Đó cũng có lẽ là niềm thông cảm sâu sắc hơn, mang tính sinh học của một sinh vật với những hình thức thân thuộc, nhưng khác nhau của cuộc đời, một dạng trải nghiệm trong những miền chưa được khám phá của sự tồn tại. Chỉ ở một giai đoạn sau đó mọi thứ mới nắm cái quay ngoặt kỳ lạ, phức tạp, về bản chất là tội lỗi và phi tự nhiên, mà tốt hơn không nên bày ra trước ánh sáng ban ngày.
Nhưng tất cả bắt đầu với việc ấp nở những trứng chim.
Tiêu pha nhiều công sức và tiền bạc, Cha nhập về từ Hamburg, hay Hà Lan, hay từ những trại thú ở châu Phi, những trứng chim ông để cho ấp bằng những con gà mái to tướng từ Bỉ. Đó là một quá trình cũng làm tôi sửng sốt - việc ấp những con gà, những dị thường thực thụ của hình dạng và màu sắc. Thật khó để đoán - trong những quái vật này với những cái mỏ to lớn, kì dị chúng mở to ngay sau khi sinh ra, sì sục tham lam để khoe những cổ họng chúng, trong những con thằn lằn với những tấm thân tạm bợ, trần trụi của kẻ gù - những con công, gà lôi, ngỗng hay kền kền tương lai. Được đặt vào len cô tông, vào những rổ, bầy rồng này ngẩng những cái đầu mù, méo trên những cổ mỏng, rền rĩ không ra tiếng từ những cổ họng ngu độn của chúng. Cha tôi sẽ đi dọc những cái kệ, bận tạp dề len tuyết màu xanh, giống như một người làm vườn trong một nhà kính trồng xương rồng, và gọi lên từ hư vô những bong bóng mù, rung động với cuộc đời, những cái bụng yếu đuối nhận được thế giới bên ngoàn chỉ bằng hình thức thức ăn, những sự lớn lên trên bề mặt cuộc đời, mù quáng neo bám về phía ánh sáng. Vài tuần sau, khi những chồi vật chất mù này bùng mở, những căn phòng tràn ngập với tiếng ríu rít lanh lảnh và lúc rúc rạng rỡ của những cư dân mới ở đó. Những con chim đậu vào những mảnh trên rèm, lên chốc những tủ quần áo; chúng rúc mình trong mớ cành bằng thiếc và những cuộn kim loạn của đèn treo.
Khi cha nghiền ngẫm những sách nghiên cứu chim khổ lớn của ông, tìm hiểu những hình vẽ màu trong đó, những ảo ảnh lông tơ này dường như vươn lên từ những trang sách và chất đầy căn phòng với màu sắc, những đốm đỏ thẫm, những dải ngọc bích, xanh đồng và bạc. Vào giờ ăn chúng tạo thành một thảm sặc sỡ, nhấp nhô trên sàn, một tấm thảm sống động chỉ cần một người lạ bước vào là rã đám, tản mác thành từng mảnh, run rẩy trong không trung, và cuối cùng tụ lại trên cao dưới những mái nhà. Tôi còn nhớ một con kền kền, một giống chim lớn với cái cổ không lông, mặt nó nhăn nheo và nổi cục, một nhà khổ hạnh hốc hác, một lạt ma nhà Phật, đầy phẩm giá điềm tĩnh trong hành vi, được dẫn lối bởi nghi thức cứng nhắc của giống loài vĩ đại của nó. Khi nó ngồi đối diện cha tôi, bất động trong tư thế như tượng của những tượng Ai Cập không tuổi, mắt nó phủ một lớp nhân trắng nhễu xuống hai bên đồng tử để nhắm hẳn hoàn toàn trong thưởng ngoạn nỗi cơ đơn trang nghiêm của nó - nó dường như, với diện mạo như đá ấy, giống một người anh của cha tôi. Cơ thể và cơ bắp nó dường như làm cùng chất liệu, cùng loại da rắn rỏi, nhăn nheo, cùng khuôn mặt xương xẩu khô quắt, cùng hốc mắt chai sừng, hõm sâu. Ngay cả bàn tay, chắc trong những khớp nối, những bàn tay dày và dài của cha tôi với những móng tròn, cũng tìm thấy sự tương đồng trong những móng con kền kền. Tôi không thể cưỡng lại ấn tượng, khi nhìn vào con kền kền đang ngủ, rằng tôi ở trong sự hiện diện của một xác ướp - một xác ướp rũ rượi, nheo nhúm của cha tôi. Tôi tin rằng ngay cả mẹ tôi cũng để ý sự tương đồng kỳ lạ này, mặc dù chúng tôi chưa bao giờ thảo luận nó. Quan trọng là con kền kền dùng cái bô của cha tôi.
Không hài lòng với sự ấp ngày càng nhiều vật mẫu mới này, cha tôi thu xếp cuộc hôn nhân của những con chim trên gác mới, ông cử ra những người mai mốt, ông buộc những cô dâu thu hút hăm hở vào trong những cái lỗ và vết nứt dưới mái nhà, rồi mái của nhà chúng tôi, một mái ván lợp hai sóng to tổ chảng, trở thành một nhà nghỉ thực thụ cho lũ chim, một cái thuyền của Noah mà tất cả các loại sinh vật có lông bay từ xa đến. Mãi lâu sau cuộc phát mãi thiên đường của lũ chim, truyền thống này vẫn trụ lại trong thế giới loài chim và trong suốt thời kỳ di trú mùa xuân mái nhà chúng tôi bị vây hãm bởi hàng đàn nhạn, bồ nông, công và những loại tạp nham khác. Tuy vậy, sau một khoảng ngắn chói lọi, toàn bộ bỏ đi thương cảm.
Sớm sau đó, cần thiết phải chuyển cha tôi tới hai phòng trên nóng nhà từng dùng làm nhà kho. Vào bình mình, chúng tôi có thể nghe ở đó tiếng chim lanh lảnh hỗn tạp. Tường gỗ của các phòng gác mái, được trợ giúp bởi tiếng vang dội của không gian trống bên dưới đầu hồi, vang vọng với tiếng rống, rung động, gáy, ríu rít, tiếng reo gọi bạn. Trong vài tuần chúng tôi không thấy Cha. Ông hiếm khi đi xuống nhà và, nếu có xuống, chúng tôi để ý dường như ông đã co rúm, trở nên nhỏ hơn và mảnh hơn. Thỉnh thoảng quên đi chính bản thân, ông sẽ vươn dậy từ ghế ở cạnh bàn, vẫy những cánh tay như thế chúng là đôi cánh, và phát ra một tiếng kêu dài hết hơi của chim khi đôi mắt ông ngấn đục. Thế rồi, chắc vì bối rồi, ông sẽ cùng chúng tôi cười nghiêng ngả và cố biến toàn bộ biến cố ấy thành một trò đùa.
Một ngày, khi đang quét nhà cửa đầu xuân, Adela xuất hiện đột ngột trong vương quốc chim của Cha. Dừng ở ngưỡng cửa, cô siết chặt nắm tay trước mùi hôi hám choán đầy căn phòng, những đống phân vãi đầy trên sàn, trên bàn, và trên ghế. Không chần chừ, cô mở toang một cửa sổ, và bằng sự trợ giúp của một cây chổi dài, cô quẩy cho cả đám chim bay xáo xác. Lông cánh bay tứ tung như bụi mù, và Adela, như một maenad cuồng nộ được bảo hộ bởi gió lốc từ cây mộc trượng, nhảy điệu nhảy của hủy diệt. Cha tôi, vung vẩy tay khiếp hoảng, cố gieo mình vào không trung cùng đám thú có lông của ông. Chậm rãi, đám mây lông cánh thưa dần cho đến khi chỉ còn lại Adela trên bãi chiến trường, mệt lử và hết hơi, cùng với cha tôi, người giờ đây, mang một biểu lộ ti tiện lo lắng, sẵn sàng chấp nhận thất bại hoàn toàn.
Một lát sau, cha tôi xuống dưới nhà – một người đàn ông bầm dập, một vị vua bị đày ải đã mất đi vương miện và vương quốc của mình.
(Dịch từ bản tiếng Anh của Celina Wieniewska)
Đọc hay nhỉ. cảm ơn Gia vũ! Bruno Schulz sắp được in ở VN hả?
ReplyDeletecái này mình không biết, chắc là không có đâu
Delete