19 Nov 2015

ISIS, khái niệm nhà nước và quốc gia

Khai sinh ở Iraq năm 2006, là một nhánh của Al-Qaida ở khu vực Lưỡng Hà và dần dần tách ra khỏi tổ chức này, chỉ trong hai năm, Daech (tên viết tắt tiếng A-rập của ISIS) đã mở rộng cương vực địa lý đến một mức độ mà trước đấy khó ai có thể ngờ. Cách họ mở rộng biên thuỳ, tạo dựng một lãnh thổ rộng lớn nằm vắt qua hai đất nước (Iraq và Syria), cai trị nó đồng thời thu thập thêm lãnh thổ, gây ra một sự đau đầu không hề nhẹ và làm lung lay nhiều khái niệm cố hữu, với người nghiên cứu cũng như người làm chính trị. Để đi vào (càng tiệm cận càng tốt) cốt lõi vấn đề, cần vào soi rọi vào cái đang làm chia rẽ thế giới chúng ta đang sống, cái đang làm lung lay hệ khái niệm, đang làm chệch “bộ code” mà chúng ta giao tiếp: đó là những ý hệ (ideology). Đám khủng bố không điên, chúng không bị tâm thần, hành động của chúng mang một ý hệ rõ ràng. Cuộc chiến (khủng bố, chống khủng bố, uýnh nhao, dội bom…) đang diễn ra là một cuộc chiến về ý hệ. IS có những tư tưởng rất nền tảng, logic và rõ ràng hơn mức nhiều người trong chúng ta có thể nghĩ đến, điều đó thể hiện trước tiên và trên hết ở cái tên của nó: Islamic State hay Etat Islamique. Tại sao lại là state mà không phải nation?

State (nhà nước) trong bối cảnh hiện đại luôn đi kèm với nation (quốc gia), hai chữ này là hai thực thể dính liền. Một nhà nước hiện đại là một quốc gia-nhà nước (nation-state). Sự khác nhau giữa hai từ này nằm ở chỗ nhà nước bao hàm ý niệm về chính quyền, chủ quyền và lãnh thổ; còn quốc gia là một thực thể mang tính xã hội, chính trị, ở đó người dân có chung ý thức về sự thống nhất. Bởi thế, có một quốc gia nhưng chưa chắc có một nhà nước, như trường hợp người Do Thái trước năm 1948; sau mốc đó, nhà nước Israel được lập ra. Năm 1947, Ấn Độ là một quốc gia nhưng không có nhà nước bởi chủ quyền nằm trong tay đế quốc Anh cai trị. Khái niệm nhà nước, cho đến nay, như trong hầu hết giáo trình về chính trị học, luôn gắn chặt chẽ với ý niệm về lãnh thổ và chủ quyền. Bởi thế, nhiều người cho danh xưng “nhà nước Hồi giáo” là “tự xưng”, nhưng mọi chuyện không đơn giản như vậy.

Trước tiên cần giải thiêng một điều rằng, người Hồi giáo không hề ngu dốt, thủ cựu, ấu trĩ như nhiều người vẫn nghĩ. Thời Trung cổ, châu Âu thua xa thế giới Hồi giáo, luồng tư tưởng và khoa học kỹ thuật (y học, toán học, hoá học, thiên văn) phần lớn chạy từ Đông sang Tây. So với sự mê muội của châu Âu khi đó dưới sự thống trị của nhà thờ, xã hội Hồi giáo tiên tiến và quy củ hơn. Ngay cả sau đó, những phong trào Phục hưng, Khai sáng, cách mạng khoa học cũng tác động không đáng kể đến Trung Đông vì người Hồi giáo coi đó là tư tưởng của riêng người Cơ Đốc, không phù hợp với họ. 

Phong trào đầu tiên có ảnh hưởng thực sự đến Trung Đông chính là cách mạng Pháp. Nếu như “bình đẳng”, “bác ái” không phải là những ý tưởng quá xa lạ, thì “tự do” cần một thời gian để thẩm thấu. Tinh thần “bác ái" – vốn dĩ dịch từ chữ fraternité, cùng gốc với frater hay brother nghĩa là anh em, huynh đệ – cùng với sự bình đẳng giữa các tín đồ là một nguyên tắc cơ bản trong đạo Hồi. Tự do trong quan niệm của đạo Hồi mang ý nghĩa công lý, tức là đối nghịch với bạo quyền; còn tự do theo nghĩa quyền công dân của châu Âu là một khái niệm còn mới với họ. Kéo theo đó là hai ý tưởng (idea) mới cũng xuất phát từ châu Âu: chủ nghĩa yêu nước (patriotism) và chủ nghĩa quốc gia (nationalism). [Trong tiếng Việt, người ta hay dùng lẫn lộn giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa dân tộc, nhưng quốc gia (nation) và dân tộc (people) là hai từ có thể mang ý nghĩa vô cùng khác. Lỗi này có thể là do bê nguyên từ tiếng Trung cách dịch từ nationalism (民族主义), hoặc là giới sử học cố tình dịch như thế. Rất nhiều tài liệu tiếng Việt dịch nation là dân tộc, chẳng hạn nước Nga sa hoàng là “nhà tù của các dân tộc” (prison-house of nations)].

Trong thế giới Hồi giáo của người A-rập, người Ba Tư, người Thổ xưa kia, ý thức của họ về truyền thống và di sản rất mạnh mẽ, thể hiện ngay trong văn học. Học giả về Trung Đông, Bernard Lewis nhận xét, bản sắc của người Hồi giáo là lòng tin, họ chỉ trung thành với vị vua chúa, giáo chủ, hay triều đại đang cai trị họ nhân danh lòng tin ấy. Thái độ này không hề mang hàm nghĩa chính trị; điều này đụng độ sự du nhập các tư tưởng phương Tây như lãnh thổ, quốc gia, chủ quyền.

Cuộc cách mạng Pháp giúp cho dự phóng của phong trào khai sáng được khai hoa. Từ đó sinh ra khái niệm công dân, chính phủ đại diện và bãi bỏ đặc quyền có được do “con ông cháu cha” tài hoa là nhờ quý tộc. Một sản phẩm khác của cách mạng Pháp là chủ nghĩa quốc gia cũng lập tức hoà vào dòng chảy xã hội châu Âu. Khái niệm dân tộc (people) mang ý nghĩa chính trị ra đời, và cũng gây một sự nhức đầu không hề nhẹ trong suốt thế kỷ 19. Ernest Renan, sử gia chuyên về Trung Đông và người Khazar, trong bài luận “Qu'est-ce qu'une nation?” [Một quốc gia là gì?] (1882) định nghĩa, quốc gia là một nguyên tắc mang tính tinh thần, sáp nhập hai nhân tố khác nhau, “một là sự sở hữu chung di sản phong phú về ký ức; và hai là sự đồng thuận trên thực tế, khao khát sống cùng nhau, và ý muốn tiếp tục tận dụng mối thừa kế chung ấy.” Từ đó dẫn đến luận điểm rằng lịch sử là căn cốt của quốc gia, và dân tộc thừa kế lịch sử ấy. Tức lịch sử ấy thuộc về họ, định hình cách họ nhìn vào thực tại, “để chia sẻ vinh quang của quá khứ và ý chí chung trong thực tại; để thực hiện những kỳ công lớn lao cùng nhao, và khao khát làm được hơn thế nữa – đó là điều kiện cốt yếu của lẽ tồn tại của một dân tộc.” Bởi thế, dân tộc của một quốc gia không nhất thiết có cùng chủng tộc hay nói cùng một ngôn ngữ, mà là những thứ được “thấu hiểu chung”, bất chấp những khác biệt về chủng tộc hay ngôn ngữ. 

Định nghĩa của Renan dựa trên một ý tưởng chung – và cho đến giờ vẫn là cách hiểu chung nhất của mọi ideology về khái niệm nation – rằng quốc gia (chứ không phải cá nhân, giai cấp hay triều đại) là thứ truyền chở một số phận/định mệnh lịch sử. Mỗi quốc gia sáng tạo và gìn giữ một gia sản đạo đức, gia sản ấy thuộc về mọi người dân; đó có thể là văn chương, kiến trúc, là chiến công hay thất bại… Điều này dính liền tới khái niệm bình đẳng. Người giàu tất nhiên vẫn giàu, người nghèo vẫn nghèo nhưng tất thảy họ đều bình đẳng, về mặt tinh thần, trước gia sản chung của quốc gia. Song, chủ nghĩa quốc gia là con dao hai lưỡi. Các sử gia mang tâm thế này có xu hướng nắn lại lịch sử, bỏ qua tính động thường hằng trong việc định hình mỗi quốc gia. Phổ thông nhất là rao giảng về sự ra đời của một quốc gia, thường là một truyền thuyết về lúc bình minh, một nhóm cư dân, sắc dân, dân tộc nào đó nói cùng một ngôn ngữ, có cùng một văn hoá xuất hiện cùng với những phong tục tập quán của họ. Chuyện này nghe dường đã quen thuộc :p Trong tiếng Trung, cũng như theo luồng tư tưởng ở châu Âu cuối thế kỷ 19, người ta muốn đánh lận vào đây rằng nationalism tức là chủ nghĩa dân tộc, điều này có thể lờ mờ hiểu được. Còn trong tiếng Việt có lẽ chỉ là tai nạn, như rất nhiều tai nạn từ việc bưng y nguyên cách dịch trong tiếng Trung.

Cụm từ “nhà nước Hồi giáo” không mới. Đế quốc Ottoman, cũng như các tiền thân của nó ở Trung Đông (tiếng Pháp thường dùng từ Cận Đông, Proche-Orient), trên hết là một nhà nước Hồi giáo. Quan niệm của họ về nhà nước có những điểm khác với cách nhìn của phương Tây đề cập ở trên. Người Hồi giáo có một cái nhìn rất khác về lịch sử, trong đó họ là những người mang theo chân lý của Chúa với nhiệm vụ thiêng liêng là mang chân lý ấy cho phần còn lại của nhân loại. Với người đạo Hồi, tôn giáo không chỉ là một hệ thống tức tin, tín ngưỡng mà còn là nền tảng căn tính tối hậu nhất, nguồn thẩm quyền duy nhất. Cộng đồng Hồi giáo là hiện thân cho mục đích của Chúa trên thế gian. Giáo chủ hay vua chúa Hồi giáo là người kế thừa đấng Tiên tri và trông coi thông điệp mà ngài lấy từ Chúa trời, với một nghĩa vụ mà Chúa giao phó là duy trì luật Thiêng và mở rộng phạm vi áp dụng nó, về mặt địa lý. Giữa nhà nước Hồi giáo và những lân bang ngoại đạo luôn hiện hữu “tình trạng chiến tranh”, nó sẽ chỉ kết thúc với chiến thắng thuộc về đức tin chân chính và toàn thế giới bước vào ngôi nhà của Hồi giáo. Và ở họ chính là nơi ký thác độc nhất của ánh sáng và chân lý, còn xung quanh là bóng đêm tăm tối của kẻ man rợ và không có niềm tin. Quan niệm ấy từ thời Ottoman tiền hiện đại sẽ là mầm mống cho tư tưởng Hồi giáo cực đoan về sau này.

No comments:

Post a Comment