12 Nov 2015

Gánh nặng của sự tồn tại

“Biến cố là khối u của thời gian” (triết gia Cioran từng nói), dẫu cho hoàn cảnh có đưa đẩy người ta nghĩ về các biến cố ấy theo thái cực nào. Với Còn chị còn em (Lê Chu Cầu dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn), Tessa de Loo viết về đề tài quen thuộc – bi kịch gia đình trong thế chiến thứ hai – nhưng bà chọn một góc nhìn đặc biệt lý thú. Hai chị em sinh đôi được đặt ở hai bên bờ chiến tuyến. Họ vô tình gặp lại nhau sau năm mươi năm tại một spa nghỉ dưỡng, nơi lẽ ra phải làm khuây khỏa tâm hồn họ, nhưng các biến cố ngày xưa tạo thành những cơn sóng không ngừng va đập, khiến những mối bất đồng trở nên không thể hóa giải và tạo cho ký ức tập thể một sức nặng không thể giũ bỏ, dù là sau gần cả một đời người.

Câu chuyện bắt đầu khi Anna, lúc này đã bảy mươi tư tuổi, nhận ra bà khách nói tiếng Đức ở spa chính là cô em Lotte ngày xưa. Anna cố gắng khơi dậy những kỷ niệm cũ nhằm tìm lại mối dây gắn kết sâu thẳm giữa họ. Dù đã là hai bà cụ nhưng những nét tính cách của họ vẫn sống động y nguyên như thời thơ ấu. Một “chị” Anna kiên quyết, rắn rỏi và lý trí. Một Lotte nhạy cảm, duy ngã và luôn nhìn mọi sự từ tâm thế của nạn nhân, đến nỗi Anna cảm thấy hoài công trước sự cứng đầu của “con người duy nhất trên thế gian mà bà muốn thuyết phục” (tr. 141).

Mồ côi và trải qua thời thơ ấu cùng nhau ở Cologne, họ bị cuộc đời đưa đẩy về hai phía đối địch. Anna sống trong một làng quê Đức “hủ lậu” giữa những trận rủa xả cay nghiệt của người thím (“một mụ hái lê điên rồ”), trong khi Lotte lớn lên ở Hà Lan trong một gia đình bố mẹ nuôi sung túc. Anna kết hôn với một sĩ quan SS, còn người tình của Lotte chết trong trại tập trung của Đức Quốc Xã [xem loạt bài về holocaust]. Đôi khi ta đâu ngờ cuộc đời lại có thể trở nên nghiêm trọng đến thế.

Cuộc đối thoại giữa hai chị em trở thành cuộc chất vấn không ngơi nghỉ: chất vấn đối phương về những tội lỗi chưa hẳn họ đã mang, chất vấn bản thân về căn tính ta từng nghĩ rằng mình đã mai một. Làm nền cho cuộc trò chuyện là quang cảnh của cuộc chiến cùng cái logic riêng không thể hiểu nổi và sự hỗn loạn của nó: “Một thế giới có thể để cho con người ta biến mất đơn giản như thế khiến nàng ngạt thở” (tr. 202).

Cuộc chất vấn càng thú vị hơn khi tác giả đặt nó vào mối liên hệ giữa Đứa và Hà Lan. Trong suy nghĩ người Đức, Hà Lan đơn thuần là một “cửa sông” Rhin và là một phần khăng khít của Đế chế La Mã Thần thánh từ năm 1648 (năm diễn ra Hòa ước Westphalia). Ngôn ngữ Hà Lan cũng gần với tiếng Đức vùng hạ. Nhưng ngược lại, người Hà Lan không muốn đặt mình vào trong lịch sử hay văn hoá Đức, họ muốn bảo tồn căn tính và những giá trị Hà Lan. Một trong những giá trị ấy là lòng khoan dung. Trong lịch sử, người Do Thái ở bán đảo Tây-Bồ từng di trú sang Hà Lan để tránh các Tòa án Dị giáo. Đến Thế chiến thứ hai, việc quân Đức lùng bắt người Do Thái đã chạm vào ý thức người Hà Lan về lòng khoan dung và trật tự xã hội. Nhà Lotte là một trong những gia đình đã giúp che giấu người Do Thái, bất chấp nguy cơ cả nhà sẽ bị xử bắn.

Đối lại, sự tàn bạo của chính quyền Quốc Xã cũng khiến nhiều người Hà Lan chỉ có thể lưu tâm vào mối lo toan trước mắt (“Về nhà với những túi đầy là thắng lợi duy nhất còn đáng đạt được trên thế gian này”, tr. 320). Với những người Hà Lan không phải Do Thái, cuộc sống thường nhật tuy không quy giảm thành vấn đề sinh tử nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt. Nguồn thực phẩm cạn kiệt, nhiều người phải bỏ mạng vào đợt đói mùa đông 1944. Cảnh Lotte gục ngã trên đường đi tìm hàng trữ đông và được cứu sống là điểm gỡ nút của con đường tìm đến “sự lãng quên tàn nhẫn, tuyệt vời” – điều mà cho đến tận cuối truyện, cô vẫn chưa thể làm được.

Day dứt ám ảnh ở cuối truyện là hình ảnh Lotte còn lại một mình trong đơn độc. Khi xưa cô từng nghĩ, giả sử cô mất đi người chị thì đó ắt hẳn là một sự tự do thật sự, tự do khỏi những khúc mắc của kiếp người, khỏi những gánh nặng của sự mất mát. Song những ký ức nào để ta yên, chúng hiển hiện kỳ quái như lời buộc tội thầm lặng và qua màn ảo ảnh là một câu hỏi văng vẳng: “ai đang biến khỏi cuộc đời ai?”

No comments:

Post a Comment