Tôi có khá nhiều duyên nợ với nghệ thuật bản địa Úc (Indigenous Australian art). Luận văn tốt nghiệp của tôi nằm trong một dự án lớn nhằm xây dựng một hệ thống nhận diện và xác thực các tác phẩm nghệ thuật của người dân bản địa (tôi không thích dùng từ thổ dân) thuộc nhiều hình thức khác nhau: dot painting, bark painting, rock painting... Giai đoạn của nhóm tôi là thiết kế. Hồi ấy tôi suýt học tiếp về nhân loại học thiết kế (design anthropology) để đi cùng dự án này cho đến tận giai đoạn prototype. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ một lúc nào đó sẽ quay trở lại đề tài này, nhất là để làm sáng tỏ triết lý Giấc mơ (Dreaming) của họ. Bài dịch này thứ nhất là một cách trả nợ, thứ hai là để làm rõ một số điểm quăng bom của Jared Diamond. Cùng với Jared Diamond, còn một tác giả nữa tôi rất không thích về thói quăng bom vô tội vạ là Christopher Hitchens.
Chúng ta
không phải lựa chọn duy nhất
Wade Davis
Ngành nhân loại học ra đời từ một mô hình tiến
hoá, trong đó các học giả thế kỷ 19 như Lewis Henry Morgan và Herbert Spencer,
người đặt ra cụm từ "kẻ sống sót phù hợp nhất" (survival of the
fittest), hình dung các xã hội như là những giai đoạn trong thang bậc của sự tiến
bộ, từ hoang dã đến man rợ đến văn minh.
Theo kết quả của họ, từng pha phát triển ấy của
con người đều tương liên với các phát minh công nghệ đặc thù. Lửa, gốm và cung
tên đánh dấu thời kỳ hoang dã. Chăn nuôi, nông nghiệp và nghề đúc kim loại đưa
chúng ta bước vào thời man rợ. Kỹ năng đọc viết đưa đến thời văn minh. Người ta
giả định rằng mọi xã hội đều phát triển qua cùng những giai đoạn ấy và theo
cùng thứ tự ấy. Mỗi nền văn hoá được xem là một bảo tàng sống, ở đó các xã hội
riêng rẽ đại diện cho từng mô-men tiến hoá được đón lấy đúng lúc, và mỗi xã hội
là một giai đoạn trên chiếc thang được hình dung dẫn đến văn minh. Kéo theo đó
là niềm tin chính đáng vào thời Victori rằng các xã hội tiến bộ có nghĩa vụ hỗ
trợ kẻ đi sau, khai hoá những xã hội hoang dã, một trách nhiệm đạo đức làm phát
sinh nhu cầu xây dựng đế chế.
Điều lạ lùng là người thách thức và phá bỏ đúng
lúc quan niệm chính thống này lại là một nhà vật lý. Franz Boas, được đào tạo ở
Đức trước Einstein một thế hệ, ban đầu chọn đề tài đặc tính quang học của nước,
nhưng suốt quá trình làm luận văn tiến sĩ ông bị ngăn trở bởi các vấn đề về nhận
thức nên sau đó chuyển mối quan tâm sang lĩnh vực này. Những học giả xuất sắc
nhất thế kỷ 19 thường có xu hướng lập dị như vậy: truy vấn lĩnh vực này rồi
chuyển sang lĩnh vực khác. Bản chất việc biết là gì? Ai quyết định điều gì là
được biết? Boas dần quan tâm đến việc làm sao các đức tin và xác tín thoạt
trông ngẫu nhiên lại hội tụ vào một thứ gọi là "văn hoá", một thuật
ngữ mà ông là người đầu tiên đề xướng như là một cốt lõi tham chiếu, một xuất
phát điểm hữu ích về mặt tri thức.
Đi trước thời đại mình, Boas tin rằng mọi cộng
đồng xã hội riêng biệt, mọi nhóm người được phân biệt nhờ ngôn ngữ hay khuynh
hướng thích nghi, đều là một lát cắt độc nhất của di sản và triển vọng của con
người. Ông trở thành học giả đầu tiên khám phá, theo một cách thực sự cởi mở và
trung lập, việc làm thế nào các nhận thức về xã hội của con người được hình
thành, và làm thế nào những thành viên của các xã hội riêng biệt bị ràng buộc
cách họ nhìn và diễn dịch thế giới. Boas yêu cầu các sinh viên của mình làm
nghiên cứu về địa phương nào phải dùng ngôn ngữ của địa phương ấy và tham dự sâu
sát vào đời sống thường nhật của bộ tộc mà họ nghiên cứu. Mọi nỗ lực chung quy
là để hiểu cách nhìn của các dân tộc khác, để học cách họ tri nhận thế giới và
tìm hiểu tận gốc các suy nghĩ của họ. Lối tiếp cận như vậy đòi hỏi sự sẵn sàng
bước lùi ra khỏi những hạn chế có từ các định kiến và thành kiến của mỗi người.
Lối đi theo hướng dân tộc ký này, phát sinh từ
quan niệm tính tương đối trong văn hoá, là một xuất phát điểm cấp tiến, một lối
đi độc đạo như thuyết tương đối của Einstein trong vật lý. Nó trở thành khám
phá trọng tâm của ngành nhân loại học hiện đại. Các nền văn hoá không tồn tại
theo một nghĩa tuyệt đối nào cả; mỗi nền văn hoá chỉ là một mô hình của thực tại,
là kết quả của một tập hợp riêng các lựa chọn về trí óc và tinh thần có từ nhiều
thế hệ trước đó. Mục tiêu của nhà nhân loại học không chỉ là giải mã "cái
khác" xa lạ, mà còn nắm bắt được sự kỳ thú của các khả thể văn hoá riêng
biệt và mới lạ, để chúng ta có thể trau dồi hiểu biết của mình về bản chất con
người và có thể giải phóng mình khỏi chứng cận thị văn hoá, một sự chuyên quyền
khu biệt ám ảnh nhân loại kể từ khi ký ức được khai sinh.
Boas sống cho đến khi nhìn thấy các ý tưởng của
mình dẫn lối cho ngành nhân học xã hội, nhưng phải hơn nửa thế kỷ sau khi ông
qua đời, ngành di truyền học hiện đại mới chứng minh được các trực cảm của ông
là đúng. Các nghiên cứu về bộ gen người cho thấy tính di truyền của con người là
một thể liên tục đơn nhất. Chủng loài chỉ là sự hư cấu. Chúng ta đều là những mảnh
vải được cắt ra từ cùng bộ quần áo gen, đều là con cháu của một nhóm nhỏ những
người bước ra từ Phi châu khoảng 60.000 năm trước, và trong cuộc hành trình kéo
dài 40.000 năm khoảng 2.500 thế hệ đã đưa tinh thần con người đến mọi ngõ ngách
có thể cư trú.
Theo đó, Boas tin rằng mọi nền văn hoá về bản
chất chia sẻ cùng một sự sắc bén về trí óc, cùng trí khôn bẩm sinh như nhau. Phải
chăng thứ khả năng và tiềm năng trí óc này được sử dụng để làm ra các phát minh
khoa học kỳ vĩ (như những thành tựu lớn lao trong lịch sử phương Tây), hay là
chúng được vận dụng trong việc tháo gỡ cuộn chỉ phức tạp của ký ức vốn gắn liền
với một huyền thoại (chẳng hạn, với người bản địa ở Úc châu), đó chỉ đơn giản
là vấn đề của sự lựa chọn, định hướng, của các cách nhìn thích nghi và các ưu
tiên văn hoá. Trong lịch sử của văn hoá, không có cấp bậc của sự tiến bộ, không
có chiếc thang theo kiểu thuyết tiến hoá Darwin xã hội [Social Darwinism - chỉ
trường phái áp dụng thuyết tiến hoá Darwin cho xã hội loài người - ND] dẫn tới
thành công. Quan niệm thời Victoria về hoang dã và văn minh, trong đó xã hội
công nghiệp châu Âu nằm ngạo nghễ trên đỉnh chiếc kim tự tháp tiến bộ có đáy là
các xã hội "nguyên thuỷ", đã bị mất tín nhiệm hoàn toàn. Nó bị giới
khoa học chế nhạo, bị coi là quan niệm thực dân và phân biệt chủng tộc, nó ấu
trĩ đối với chúng ta hôm nay cũng như đức tin của các mục sư thế kỷ 19 rằng
Trái đất này mới chỉ 6.000 năm tuổi.
Các "dân tộc khác" của thế giới không
phải là mưu toan thất bại nhắm vào tính hiện đại; chính chúng ta mới là những cố
gắng thất bại. Họ là những biểu hiện phi thường về trí tưởng tượng và tâm can
con người, là lời đáp phi thường cho một câu hỏi nền tảng: việc làm con người
và được sống có ý nghĩa gì? Trả lời câu hỏi này, các nền văn hoá trên thế giới
đáp lại bằng 7.000 thứ giọng khác nhau, và các câu trả lời ấy tạo nên cái kho
nhân loại của chúng ta, để ứng xử với tất cả thách thức mà chúng ta sẽ chạm
trán với tư cách là một loài trong cuộc hành trình không bao giờ kết này.
Tuy nhiên, người ta phải đi ngược lại cơ sở này
khi xem xét các tác phẩm đại chúng nhưng gây tranh cãi của Jared Diamond, một học
giả được mỗi nơi mô tả mỗi khác: nhà địa lý sinh vật học, nhà sinh học về tiến
hoá, nhà tâm lý học, nhà nghiên cứu chim, nhà sinh lý học. Trong Súng, Vi
trùng và Thép, Diamond tìm cách giải quyết cái ông cho là câu hỏi
hóc búa. Tại sao một số nền văn hoá như của chúng ta [tức người "văn
minh"] tiến đến chỗ vượt trội về công nghệ, kinh tế và chính trị, trong
khi các dân tộc khác như người bản địa Úc châu thì không? Bỏ qua các quan niệm
về chủng loài, trí khôn, những khác biệt bẩm sinh về sinh học, ông đưa ra lời
lý giải về môi trường và địa lý. Các nền văn minh phát triển được ra đời ở nơi
môi trường cho phép trồng trọt, cho phép tạo ra thặng dư và phát triển dân số,
dẫn tới sự tập trung hoá chính trị và phân tầng xã hội. Điều đó không có gì bất
ngờ.
Trong Sụp đổ, Diamond quay trở lại với
thuyết quyết định do môi trường [environmental determinism] khi ông đặt ra câu
hỏi tại sao và làm thế nào các nền văn minh vĩ đại kết thúc. Đưa ra chuyện kể về
giới tự nhiên ở Đảo Easter, ông cho rằng các nền văn hoá sụp đổ khi con người
không thể vượt qua được các thử thách của tự nhiên, khi họ bạc đãi tài nguyên
thiên nhiên, và trên hết là mù quáng trượt ra khỏi điểm bất khả quy hồi.
Không có gì đáng tranh cãi trong cuốn sách, ngoại
trừ việc các lý lẽ tỏ ra hời hợt, và chính đặc điểm này trong các tác phẩm của
Diamond làm cho các nhà nhân loại học rối trí. Tiền đề trước tiên của Súng,
Vi trùng và Thép là một hệ thống cấp bậc của sự tiến bộ tồn tại trong địa hạt
văn hoá, với các thước đo thành công đơn thuần mang tính vật chất và công nghệ;
câu đố hóc búa là việc xác định tại làm sao phương Tây rốt cuộc vươn lên ngự trị
ở đỉnh. Đặt ra câu hỏi này, Diamond lại trở về với một quan niệm từ thế kỷ 19
mà ngành nhân loại học hiện đại đã bác bỏ từ nền tảng. Thắng lợi của chủ nghĩa
duy vật thế tục có thể chính là sự tự phụ của tính hiện đại, nhưng thắng lợi này
đóng vai trò rất nhỏ trong việc khám phá ra yếu tính của văn hoá hay giải thích
sự đa dạng và phức tạp của văn hóa.
Hãy xem kiến giải của Diamond về người bản địa
Úc châu [từ đây tác giả gọi đơn giản là người Bản địa - ND] trong Súng, Vi
trùng và Thép. Để giải thích cho nền văn hoá về vật chất đơn giản của họ, sự
thất bại của họ trong việc phát triển chữ viết hay nông nghiệp, ông hào hứng
bác bỏ các quan niệm về chủng loài, ông cho rằng không có mối tương liên giữa
trí khôn và năng lực về công nghệ. Tuy vậy khi tìm kiếm lời giải thích về sinh
thái học và khí hậu cho sự phát triển đời sống của họ, ông tin chắc vào tính
nguyên thuỷ từ bản chất của họ, cũng như những kẻ thực dân châu Âu trước đây
không chịu tin rằng người bản địa cũng là con người. Ở Diamond dường như không
tồn tại suy nghĩ rằng, hàng trăm bộ lạc riêng biệt ở Úc chỉ đơn giản là đại diện
cho những cách sống khác nhau và là hiện thân các kết quả của một tập hợp duy
nhất những lựa chọn về trí óc và tinh thần.
Thực ra, như nhà nhân loại học W. E. H. Stanner
từ lâu đã nhận thấy, cách nhìn riêng của người Bản địa là một trong những trải
nghiệm vĩ đại nhất của suy nghĩ con người. Thay vì đưa ra các phát kiến công
nghệ, họ phát minh ra một ma trận các ghép nối, một mạng rối rắm các mối quan hệ
xã hội dựa trên hơn 100 mối quan hệ họ hàng. Nếu như họ không tuân theo quan niệm
về tiến bộ của người châu Âu, thì đó không phải vì họ là những kẻ hoang dã như
những người thực dân giả định, mà bởi vì trong vũ trụ trí óc của họ, được chưng
cất trong triết lý họ sùng bái - gọi là Giấc mơ (Dreaming) - không có
cái gọi là quan niệm về sự tiến bộ tuyến tính, không có ý thức về một khả thể
hay hứa hẹn về sự đổi thay. Không có quan niệm về quá khứ, hiện tại hay tương
lai. Không có một thổ ngữ hay phương ngữ nào trong hàng trăm thứ tiếng của người
Bản địa có từ dành riêng cho thời gian. Toàn bộ mục đích của nhân loại không phải
là để chứng minh bất cứ điều gì, mà là tham dự vào các hoạt động lễ bái và nghi
thức được xem là cốt yếu cho việc gìn giữ thế giới chính xác như nó là vào thời
điểm khai sinh. Thử tưởng tượng, nếu tất thảy niềm đam mê về trí óc và khoa học
của phương Tây từ thuở khai thiên lập địa đều chỉ tập trung vào việc giữ cho vườn
Địa đàng chính xác như là khi Adam và Eve có cuộc đối thoại định mệnh, thì sẽ
như thế nào?
Rõ ràng, nếu như "loài" của chúng ta
đi theo con đường của người Bản địa, chúng ta sẽ chẳng thể đưa được người lên mặt
trăng. Nhưng mặt khác, nếu như Giấc mơ trở thành một ý chí quảng đại,
chúng ta hôm nay sẽ không phải trông thấy những hệ quả của sự biến đổi khí hậu
và các quá trình công nghiệp đe doạ các điều kiện duy trì sự sống ở hành tinh
này.
Việc Jared Diamond không hiểu được rằng văn hoá
cư ngụ trong địa hạt của các ý tưởng, và chúng không chỉ là kết quả riêng của
các yếu tố thời tiết hay môi trường, có lẽ là một lý do dẫn đến các giới hạn
cho quyển sách mới của ông, Thế giới cho đến Hôm qua [The World Until
Yesterday], trong đó ông tìm cách xác định xem chúng ta trong thế giới hiện đại
có thể học được gì từ các xã hội truyền thống.
Ông bắt đầu bằng cách lựa chọn hữu ý chín đề
tài để đào sâu, giới hạn ngay từ đầu phạm vi khai thác của mình. Ông khảo sát
cách thổ dân nuôi dạy con, đối đãi người già, giải quyết các xung đột và quản
lý rủi ro. Ông chú ý đến những lợi ích của việc đa ngôn ngữ và cách ăn uống có
lợi cho sức khoẻ. Ông dành hai chương để nói về những mối nguy hiển hiện trong
đời sống của thổ dân, kéo theo một chương về tôn giáo, vì "nguồn gốc của mối
đe doạ mà chúng ta vẫn tìm kiếm xưa nay có thể liên quan đến các nguồn gốc của
tôn giáo". Từ một số chủ đề này - chẳng hạn việc nuôi dạy trẻ con - ông
rút ra các bài học có thể được áp dụng vào "đời sống cá nhân của chúng
ta". Cách đối đãi người già cả, lối sống lành mạnh và việc lớn lên trong
môi trường đa ngôn ngữ đã không chỉ đưa ra "các mô hình cho cá nhân, mà
còn các chính sách mà xã hội chúng ta nói chung có thể tiếp thu". Việc bàn
luận để giải quyết các vấn đề tranh cãi, rốt cuộc đưa ra "các chính sách
cho xã hội chúng ta nói chung".
Diamond cho thấy việc ông làm xuất sắc nhất là
đưa ra những dấu mốc trong thời gian ông đi khảo sát ở New Guinea, nơi có hơn
1.000 ngôn ngữ, cũng là nơi mà các thành tựu của ông như là một học giả và nhà
tự nhiên học thực sự đáng được ghi nhận. Những câu chuyện về thời gian ông sống
giữa những người Dani, thời gian ông nghiên cứu chim, những cuộc gặp ngẫu nhiên
của ông khi thì ở nhà ga sân bay khi thì ở những cộng đồng hẻo lánh nhất, đều
hài hước và sâu sắc. Các quan sát của ông trong bất cứ lúc nào cũng đều nguyên
bản và thường là thông thái. Tuy vậy những bài học ông rút ra từ việc xem xét
chung chung về văn hoá là những phần nhàm chán và chủ quan nhất. Chúng ta có thể
bỏ qua cho việc ông kết luận rằng các xã hội truyền thống chẳng dạy được gì cho
chúng ta ngoài việc nên ăn uống lành mạnh, chăm sóc từ tế cho ông bà cũng như
con cái, học một ngôn ngữ thứ hai, tìm kiếm sự hoà giải thay vì trả thù nhau trong
việc đâm đơn li dị, và ăn bớt mặn.
Nói đơn giản, đụng đến vấn đề văn hoá, Diamond
không có được cơ sở vững vàng. Trong Thế giới cho đến Hôm qua, ông dẫn
chiếu đến 39 xã hội thổ dân, 10 trong số đó từ New Guinea, 7 từ Úc, và phần còn
lại rải rác khắp thế giới. Diamond không có luận điểm của một nhà dân tộc học,
và hầu hết các kết luận cũng như quan sát của ông đều rút ra từ trải nghiệm cá
nhân với những người khuân vác thuộc tộc người Dani từng hỗ trợ ông khi ông
nghiên cứu chim ở New Guinea. Trải nghiệm của ông với những thổ dân bên ngoài
New Guinea đều hạn hẹp, cũng như kiến thức của ông về lý thuyết nhân loại học;
thư mục tham khảo của Thế giới cho đến Hôm qua khá sơ sài. Một cuốn sách
đầy hứa hẹn hoá ra lại là một bản trích yếu những thứ ông cho là hiển nhiên, một
tác phẩm về dân tộc học đơn thuần qua giai thoại.
Các xã hội truyền thống tồn tại không phải để
giúp chúng ta chạy chữa cuộc đời mình giống như cách chúng ta mô phỏng một vài
tập quán văn hoá của họ. Họ nhắc nhở rằng cách sống của chúng ta không phải là duy
nhất. Một đứa trẻ được nuôi lớn ở dãy Andes tin rằng ngọn núi là vị thần hộ vệ
sẽ có một mối quan hệ với thế giới tự nhiên khác hẳn với đứa trẻ được nuôi dạy ở
Mỹ tin rằng ngọn núi là đống đá trơ ì chờ đến ngày được phá ra làm mỏ. Dùng tất
thảy trí khôn từng cho phép chúng ta đưa người lên mặt trăng và áp dụng nó vào
việc hiểu biển cả, thứ ta có được là Polynesia. Phật giáo Tây Tạng đúc kết
2.500 năm kinh nghiệm quan sát được để hiểu bản chất của tâm trí. Một lạt ma từng
nhận xét rằng, người Tây Tạng không tin là người Mỹ đã lên mặt trăng, nhưng người
Mỹ làm được. Ông nói thêm, người Mỹ có thể không tin rằng người Tây Tạng có thể
đạt được sự khai sáng (hay giác ngộ) chỉ trong một đời người, nhưng quả thực
người Tây Tạng làm được.
Tiếng nói của các xã hội truyền thống vô cùng quan
trọng bởi vì chúng nhắc nhở chúng ta rằng thực sự vẫn có những sự thay thế, các
cách khác để định hướng con người trong không gian xã hội, tinh thần và sinh
thái. Như vậy không phải để ngây thơ đề nghị chúng ta bác bỏ mọi thứ và tìm
cách bắt chước những cách thức của các xã hội không-phải-công-nghiệp, hay tước
mất của một nền văn hoá nào đó quyền hưởng lợi từ thành tựu công nghệ. Hiểu như
vậy để chúng ta có niềm hứng khởi và thích ứng với sự thật rằng con đường chúng
ta đã đi không phải là lựa chọn duy nhất, vì vậy số phận chúng ta không phải là
bia đá bất di bất dịch tạo ra từ tập hợp các lựa chọn được thực nghiệm chứng
minh là thiếu khôn ngoan. Chính sự hiện diện của các nền văn hoá đa dạng trên
thế giới là bằng chứng cho sự điên rồ của những kẻ nói rằng chúng ta không thể
thay đổi cách thức nền tảng mà nhờ đó chúng ta sinh sống trong thế giới này,
trong khi tất cả đều biết rằng chúng ta buộc phải. Riêng Jared Diamond, một nhà
sinh học bảo tồn [conservationist] nhân văn và dấn thân, thì không thoát ra được
cách nghĩ đó.
*
Tác giả Wade Davis (sinh năm 1953) là nhà nhân
loại học người Canada, lấy bằng tiến sĩ ở đại học Harvard về ngành thực vật dân
tộc học (ethnobotany). Cuốn sách Into The Silence: The Great Wat, Mallory
and the Conquest of Everest của ông đoạt giải thưởng Samuel Johnson cho thể
loại phi hư cấu vào năm 2012.
he he dè biểu nhà nghiên cứu chim shaoooooo
ReplyDeleteCó mấy nhân vật muốn xử lý từ lâu rồi nhưng nhát tay nên đành nhờ người khác xử lý hộ hihi
ReplyDeleterất đẹp lòng anh ze ze
Deletetưởng Tân học về Kinh tế?
ReplyDeleteKhoá luận làm về design anthropology nên em nhảy ngành văn được :)
Delete