Đối với nhà luật
học Daniel Borrillo, việc kỳ thị người đồng tính ra đời cùng với sự phát triển
của ba tôn giáo lớn độc thần: Do Thái giáo, Ki-tô giáo và Hồi giáo. Bài phỏng vấn ông trên báo Le
Monde (Pháp) ngày 2-7-2016 do Frédéric Joignot thực hiện.
***
Sau vụ tấn công hộp đêm đồng tính ở Orlando, người ta quy
cho hành động bài người đồng tính là liên quan đến Hồi giáo. Nhưng việc phân
biệt đối xử người đồng tính lại đang diễn ra khắp nơi?
Sau vụ thảm sát
Orlando, các chính trị gia lại tìm cách dẫn dắt cảm xúc của người dân. Donald
Trump chỉ trích Barack Obama không tiên liệu được hình thức khủng bố mới, còn
Marine Le Pen đưa ra luận điệu đả kích việc bài đồng tính của Hồi giáo. Những
sự dẫn dắt như thế rất nguy hiểm. Thảm kịch này là dịp để chúng ta hình dung
lại thế nào là chứng sợ và bài đồng tính (homophobia).
Khái niệm này ra đời vào thập niên 1960, được nhắc đến lần đầu năm 1971 trên
tạp chí Psychological Report (Mỹ),
kéo theo nhiều phân tích về xã hội học, triết học, chính trị… Nó mô tả một hình
thức ác cảm, có tính khiêu khích, đối với người đồng tính, mong muốn trục xuất
họ ra khỏi cơ chế xã hội, với luận điểm cho rằng họ một mặt thách thức “trật tự
tự nhiên”, mặt khác vẫn bị chế áp bởi trật tự linh thiêng của Chúa trời, được
định nghĩa bởi các tôn giáo lớn có Thánh kinh.
Đâu là hình thức bài người đồng tính chịu ảnh hưởng của Do
Thái - Kitô giáo?
Người ta tìm thấy
nhiều văn bản của các nhà thần học Do Thái và Công giáo lên án gay gắt hành vi
đồng tính luyến ái. Chứng sợ đồng tính ra đời cùng với nhận thức về việc cần
phải tiệt trừ những mối ô trọc trong cơ thể trong sạch của xã hội. Theo đó, một
nhóm người đang đứng đối chọi lại với định mệnh tập thể mà Chúa trời mong muốn.
Trong Cựu Ước, ý muốn thanh tẩy được mô tả trong một đoạn Sáng Thế ký, khi hai
thiên sứ phạt dân thành Sodome vì tội kê gian. Ngày hôm sau, Chúa giáng xuống
thành phố tội lỗi này một cơn “mưa diêm sinh và lửa”. Theo sách Lêvi (quyển thứ
ba trong Ngũ Thư của người Do Thái), hành vi xác thịt giữa những người cùng
giới tính được mô tả là “ghê tởm” và những ai mắc phải cần bị khép tội chết.
Những lời kết án đó được nhắc lại bởi thánh Paul (Phaolô), thánh Jean
Chrysostome, bởi học phái kinh viện (thánh Thomas d’Aquin) lẫn giáo phụ (thánh
Augustin) thời Trung cổ cho tới khi nó có hiệu lực như luật. Vào thời Toà án dị
giáo, nhiều người đồng tính bị nhục hình, tra tấn hay đưa lên giàn thiêu.
Vậy còn Hồi giáo?
Theo kinh Coran,
dân thành Sodome bị trừng phạt vì những “hành vi đáng kinh tởm”, và đồng tính
luyến ái bị xem là “tội” trong thiên xura về “quy phạm”. Hình phạt không được
nêu rõ, nhưng trong nhiều bản ghi chép lời dạy của Muhammad (hadith), tội kê gian bị trừng phạt bằng
cách ném đá đến chết hay đày biệt xứ. Bởi thế, nhiều cuộc tranh cãi lớn về thần
học xoay quanh việc cần trừng phạt hay tha thứ. Ngày nay, ở nhiều quốc gia hồi
giáo như Ả Rập Saudi, Iran, Mauritanie, Sudan, Yemen, chưa kể những vùng lãnh
thổ do Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng kiểm soát, người đồng tính luyến ái phải
chịu các hình thức trừng phạt như bị đuổi khỏi xứ, đánh bằng roi, hay đôi khi
mang tội chết. Tuy nhiên, trong thế giới hồi giáo, vào triều đạo khalip của nhà
Abbas (năm 750-1258) vẫn tồn tại một truyền thống đồng tính luyến ái dai dẳng.
Dù là Kitô giáo hay Hồi giáo, cách hiểu ngày nay khác biệt
với đồng tính luyến ái thời cổ đại?
Những cách diễn
giải về luyến ái trong nghệ thuật hay văn chương thời cổ đại đa thần giáo cho
thấy đồng tính luyến ái thời bấy giờ là phổ biến. Một người đàn ông “chủ động”
có thể có mối quan hệ tính dục với người đàn ông “bị động”, hoặc với một tráng
niên, mà không bị xem là ô nhục. Đồng tính luyến ái giữa người trưởng thành với
thiếu niên là một phần trong quá trình phát động tính chất nam giới, để kết nạp
họ vào quân đội. Ở xứ Sparta, ta có ví dụ về Achilles và Patroclus thành Troy,
những cặp chiến binh-người tình khá phổ biến. Sự cắt đứt với truyền thống này
bắt đầu khi Constantine đại đế cải đạo sang Ki-tô giáo và coi đây là tôn giáo
của đế quốc La Mã. Lần đầu tiên xuất hiện những điều luật trừng phạt mãi dâm và
những đàn ông cư xử “như phụ nữ”.
Nhưng chứng sợ đồng tính liệu có bao gồm việc hắt hủi những
đàn ông cư xử “uỷ mị” và những phụ nữ cư xử như đàn ông?
Chứng sợ đồng tính
chỉ liên quan đến hành vi “phản tự nhiên", song cũng có một số hình thức
khác. Thời Trung cổ, từ mollitia (cùng
gốc với từ mollesse, “ẻo lả”, trong
tiếng Pháp) dùng để chỉ người đàn ông không phẩm cách. Thánh Jérôme (đầu thế kỷ
5) đã nhắc, theo lời thánh Christophe (thế kỷ 3 ở Tiểu Á): làm sao một người
đàn ông, vốn là sự cung hiến cho đấng sáng tạo, có thể hành xử như phụ nữ, vốn
được xem như sinh linh thấp kém hơn? Làm sao anh ta có thể phản bội lại định
mệnh của phái giống mình? Ta thấy ở đây một biểu hiện của tính ghét phụ nữ
(misogyny) rất khắc nghiệt. Đây cũng là chỗ nương dựa của thái độ khinh miệt
đồng tính nữ.
Có thể coi chứng sợ đồng tính như kết quả của việc coi trọng
quá mức giá trị của hình mẫu dị tính luyến ái?
Chủ nghĩa độc tôn
dị tính (heterosexism) chính là một hình thức đoan chắc về sự vượt trội về mặt
đạo đức, pháp lý và nhân loại học của dị tính luyến ái so với đồng tính luyến
ái, và nó cũng là tiền đề cho tâm lý bài người đồng tính, đôi khi kèm theo hình
thái bạo lực. Dị tính luyến ái lấn át tôn ti của giá trị tính dục do nó bảo vệ
việc duy trì nòi giống, song điều này không đồng nghĩa với bảo vệ “niềm hoan
khoái” (pleasure). Còn hơn cả một học thuyết mang tính tôn giáo, nó nhanh chóng
trở thành phương tiện, một ý hệ của nhà nước nhằm bảo đảm cho khái niệm gia
đình và tính liên tục của các xã hội. Đồng tính luyến ái, kê gian hay thậm chí
thủ dâm vẫn bị lên án ở phương Tây cho tới giữa thế kỷ 20.
Chủ nghĩa độc tôn
dị tính trở thành chứng sợ đồng tính khi nó từ chối quyền của người đồng tính
được có một cuộc sống bình thường. Ngày nay, mặc dù nhiều nghiên cứu cho thấy
những đứa trẻ được nuôi nấng bởi cặp bố mẹ đồng tính đều không gặp vấn đề gì,
suy nghĩ độc tôn dị tính vẫn tồn tại bởi họ cho rằng chỉ những cặp bố mẹ nam và
nữ mới có đủ tư cách pháp lý để nuôi đứa trẻ. Từ năm 1982, Pháp đã bãi bỏ điều
khoản phân biệt người đồng tính trong bộ hình luật, nhưng những lập luận về đạo
đức, sinh học hay kể cả tâm lý phân tích của phe chống đối đồng tính hôm nào
nay lại được viện dẫn bởi phe chống đối kết hôn đồng tính và việc người đồng
tính nhận con nuôi.
Từ lâu nay, áp lực xã hội nhiều tới nỗi ngay cả người đồng
tính cũng mang tâm lý bài/sợ đồng tính. Tại sao?
Họ mang trong
người hai suy nghĩ, rằng mình thấp kém hơn và mình không đáng tồn tại, điều này
dẫn đến những giằng xé về tâm lý. Nền văn học Pháp đã chứng kiến nhiều nhân vật
chịu đoạ đày, ta có Jouhandeau, Proust, Genet, Rimbaud. Jean-Paul Sartre trong
chuyên khảo Thánh Genet, kịch sĩ và người
tử đạo, cho rằng bản thân Genet nghĩ mình là kẻ phản lại phái tính của mình
và phản lại xã hội. Giờ đây, nhiều người nói tên sát nhân ở Orlando là một kẻ
đồng tính căm ghét chính hắn. Điều đó có thể, nhưng cách lý giải như thế bỏ qua
khía cạnh ý hệ của hành động. Chính sách đưa người đồng tính vào trại tập trung
của Đức Quốc Xã vẫn được nhận định (sai lầm) như là chuyện thanh toán lẫn nhau
của những tên Nazi đồng tính, nhưng người ta quên rằng về mặt ý hệ, những người
đồng tính dù thế nào cũng vẫn bị buộc tội chống lại “tộc thượng đẳng” khi họ
chấp nhập luyến ái mà không có sự sinh sản.
Những kẻ khủng bố hồi giáo tại sao lại chọn phương Tây để
tấn công?
Nhắm vào nhà hát
hay hộp đêm đồng tính, tức là chúng đang tấn công vào tính khoan hoà trong
phong hoá phương Tây, vốn được bồi đắp sau nhiều tranh đấu, nhất là các phong
trào nữ quyền và bảo vệ người đồng tính. Chúng đồng thời muốn phá huỷ một nghệ
thuật sống đã có từ nghìn năm nay, ars
erotica (quan niệm rằng tính dục như một nghệ thuật), bắt nguồn từ thế giới
Hy-La và phương Đông, như Michel Foucault chỉ ra. Chúng ta thấy sự quan trọng
mang tính biểu tượng của các vụ tấn công đối với người Hồi giáo; có những người
trong số họ ghét phương Tây đến mức chối bỏ lịch sử của chính mình và các phong
trào LGBT ở cả ngay thế giới Hồi giáo.
Phong trào Gay Pride sắp tới sẽ bảo vệ những quyền của người
chuyển giới (transsexual) và hoán tính
(transgender)[1].
Bên cạnh chứng sợ đồng tính, còn có thêm chứng sợ chuyển giới (transphobia)?
Tuy giới gay,
lesbian, chuyển giới (trans), song tính (bi) và liên giới tính (inter-sex[2])
có chung đấu trường chính trị, ta vẫn thấy ở một số nước, kể cả đạo hồi, có sự
khoan dung nhất định với người chuyển giới. Ở Iran, phẫu thuật chuyển giới là
hợp pháp trong khi người đồng tính bị trừng phạt. Nghĩa là việc chuyển giới thì
chấp nhận được bởi người ta coi nó là làm hợp với trật tự tự nhiên bằng cách
đáp ứng vẻ bề ngoài của dị tính luyến ái. Cách nghĩ này giải thích tại sao hôn
nhân chuyển giới lại dễ được chấp nhận hơn là hôn nhân đồng tính. Ngược lại, ở
Pháp, những câu hỏi về quan hệ dòng máu hay hộ tịch vẫn nảy ra đầy phức tạp, lý
giải cho các đòi hỏi mới đây của phong trào Gay Pride.
***
Daniel Borrillo,
sinh năm 1961, là nhà luật học người Argentina. Mảng nghiên cứu của ông là đạo
đức sinh học, luật về phái tính, luật về chống phân biệt và ngược đãi. Ông hiện
là giảng viên đại học Paris 10 và nghiên cứu viên của Trung tâm Nghiên cứu khoa
học quốc gia (CNRS), Pháp. Ông là tác giả quyển L'Homophobie (Chứng sợ đồng tính) trong tủ sách phổ biến kiến thức
“Que sais-je?”.
No comments:
Post a Comment