1 Jul 2016

Erasmus, chủ nghĩa nhân bản và ngành Nhân-văn

Mấy năm qua, và chắc hẳn những năm tới, đã và sẽ chứng kiến sự thay máu ngoạn mục của khối ngành khoa học nhân văn ; đó là sự bổ túc, tương trợ, giao thoa giữa những ngành nhân văn và khoa học máy tính, giữa nghiên cứu nhân văn truyền thống và các công cụ thông tin số hóa. Cái gọi là « digital humanities » hay « humanités numériques », cho đến giờ, vẫn khó để minh định được tinh thần cốt tuỷ và xác lập được vị trí tri thức luận (épistémologie), nhưng dẫu cho có tranh cãi bát nháo thế nào, đã đến lúc người ta không thể lơ là được nữa, không thể tiếp tục bằng lập luận về tinh thần chủ nghĩa nhân bản truyền thống phủ nhận các hiện thực đang diễn ra là cuộc cách mạng số, sự chia cắt số, ở một thời đại số. Oái oăm ở chỗ, chỉ cần thử hình dung bằng tương quan hàm lượng tranh luận, cán cân chắc hẳn sẽ nghiêng về phía « digital ». Cộng đồng « humanities » dẫu đông, dẫu trường kỳ, vẫn sẽ bị áp đảo nếu không tự chuyển mình. Người ta đã nói nhiều về vai trò bị lu mờ của khối ngành nhân văn từ mấy năm gần đây, đó là tảng nổi của sự chuyển dịch. Hãy thử soi rọi một chút vào phần đắm, hay cái ta gọi là ngành Nhân-văn.

***

Sẽ có lúc phải nói đến nhiều về Desiderius Erasmus (hay Erasmus thành Rotterdam, 146x-1536), một tinh thần ma mị đầy sức lôi cuốn và khơi gợi cảm hứng, một con bệnh lớn của một thời đại bản lề. Là người cùng thời với Christophe Colomb, người trao đổi thư từ và có lúc là cố vấn của hoàng đế Đức, Charles Quint aka Karl V của đế quốc La Mã Thần thánh, của các vua Pháp François I và vua Anh Henry VIII, của giáo hoàng Léon X (Jean de Médicis), bạn của hoạ sĩ Hans Holbein Con và Albrecht Dürer (cả hai đều từng vẽ chân dung ông), bạn thân tình của Thomas More và nhân vật đối chọi với Luther, Erasmus là nhà tư tưởng, học giả và nhà luận chiến quan trọng nhất, nổi tiếng nhất châu Âu vào buổi đầu thời hiện đại. Và có thể đây là thời đại đáng để ta nhắc đến Érasme hơn cả. Là người thù địch với phe cuồng tín, chỉ trích chủ nghĩa quốc gia như là mối nguy cho nhân loại, đề xuất việc dàn xếp tranh chấp bằng khế ước, bằng đồng thuận (consensus), giá trị của Erasmus nằm ở lòng khoan hòa và chủ nghĩa toàn cầu (cosmopolitisme ; tức kosmos « world » và polites « citizen »).


Trước tiên hãy thử truy tìm về khái niệm « chủ nghĩa nhân bản », thứ mà như hình dung thông thường của tôi trước đây và có lẽ nhiều người khác, lẽ ra phải gắn chặt với thời của Erasmus. Nhưng mọi thứ để làm cho tỏ tường hoá ra nhiêu khê hơn thế.
Truy về nguồn gốc từ humanism (human + ism) là cả một chuyện dài. Khái niệm « humanisme » xuất hiện trong tiếng Pháp nhẽ khá trễ, vào khoảng thế kỷ XIX. Đó là phong trào hòng truy về cội nguồn nền Phục Hưng. Trái với suy nghĩ mặc định của tôi trước đây rằng từ này gắn liền với Erasmus và nhóm của ông, nhưng không, nhóm Erasmus không dùng từ này. Xuất phát điểm của nó là tiếng Ý, nhằm chỉ giáo sư chuyên về văn phạm và tu từ học ; thế kỷ XV, người Ý nói « umanista », cũng như nói « artista » là thầy dạy về liberal arts, « jurista » là thầy dạy luật, với cái vĩ tố -ista mang hơi hướng chế nhạo tương tự như vĩ tố -iste trong tiếng Pháp trong một vài bối cảnh. [Về chuyện này ta có vụ Poliziano tức Politian chế giễu các grammaticus nửa mùa là grammatista]. Theo cách gọi đó, humaniste tức là thầy dạy về nhân văn, « maestro di umanita », người nghiên cứu về con người. Trong giới đại học thế kỷ XVI, gọi « studia humanitatis » là những ngành thuộc khối Nghệ thuật, còn « studia divinitatis » là khối ngành thuộc Thần học. Dần dà ở châu Âu xuất hiện những hệ phái nhân văn khác nhau: phái thần bí, phái trí thức, phái tà giáo, phái Cicero, phái cải cách… nhưng chủ lưu nhất là chủ nghĩa nhân bản Ki-tô giáo. Tất cả giao lưu và tạo thành một dải liên tục, cái ta gọi là « humanity/humanité » - chức năng của con người trong vũ trụ hay là ngành Nhân-văn. Xuất phát của ngành Nhân văn chính là khoa tu thư Hy Lạp - La Mã (hay cổ văn, classics). Tinh thần chân yếu của ngành Nhân văn là con người có thể vượt trên những thứ được quyết định về bản chất của họ.


Về đề tài này, một tác giả đáng đọc là Jean-Claude Margolin (biên soạn Anthologie des humanistes européens de la Renaissance). Gốc của chủ nghĩa nhân văn là đề cao việc nghiên cứu về lịch sử thời Phục Hưng, để tìm ra vai trò của nhân văn trong triết học đạo đức và triết học chính trị. Từ này (humanisme) và từ tương đương trong những ngôn ngữ khác (humanismus, umanesimo…) xuất hiện sau thời Phục Hưng, chính xác là cuối thế kỷ XVIII, đầu XIX. Một phiên bản gần của nó là umanista, như đã nói ở trên, xuất hiện cuối thời Trung Cổ.


Khái niệm humanisme, và các từ tương đương trong ngữ hệ Roman, có gốc tiếng La tinh: homo / con người. « Humaniste » vì thế để chỉ « maestro di umanità » tức thầy dạy khoa học nhân văn (studia humanistatis) hay văn chương (litterae humaniores hay bonae litterae, là tiền thân chữ belles lettres, văn chương, sau này). Các thuật ngữ La tinh nói trên xuất hiện từ thời Phục Hưng, thời người ta dành mối quan tâm rất lớn đến các tác giả La tinh Cổ đại như Cicéron, Quintilien, Sénéque. Theo đó, những ngành học nhân văn - sự học vấn khiến cho người ta nhân văn hơn - được xem là cần thiết để tích luỹ những phẩm tính về tri thức và đạo đức hòng giúp một đứa trẻ, một cá nhân mang một « diện mạo » nhân văn (gọi là « diện mạo » theo nghĩa phong thái, vẻ ngoài, bản năng, mối thương cảm dành cho tha nhân), được dẫn dắt nhờ lý tính và bằng ý chí có thể điều khiển hay khu xử cảm xúc, hay các vận động bạo lực thuộc bản tính người đó. Và ở đây, mối dây dẫn ta về một « công thức » chắc chắn của Erasmus, rất nổi tiếng: « Con người không sinh ra là con người, mà họ trở thành ».


***

Hiểu theo Erasmus, cần phải đặt vào con người tất cả năng lực, tiềm năng có thể của việc tự-tôn tạo, bởi vấn đề không phải là sự trở thành theo nghĩa sinh học (tức sự lớn một cách tự nhiên), mà là một chuỗi các biến chuyển nhờ vào ý chí, nhờ vào trí khôn được tạo lập, được tôn tạo của con người. (Ở đây ta có sự tách biệt giữa biology và humanity, cũng như chính con người, bằng cuộc cách mạng nhận thức, đã tách biệt giữa biology và history.) Ý tưởng này được Jean Pic de la Mirandole (tức Giovanni Pico della Mirandola) viện ra trong Luận về phẩm tính con người (Discours de la dignité de l'homme), theo đó con người, một cá thể tự do và có trách nhiệm, được ban cho lý trí và sự mẫn cảm, là người điều khiển định mệnh của anh/chị ta, dưới cái nhìn của Chúa. Ở đây cần nhắc một điểm là ý tưởng về chủ nghĩa nhân bản của Pico della Mirandola hay Erasmus không thể bị tách rời khỏi niềm tin về Chúa (trời) sáng thế toàn năng và đức tin Ki-tô giáo.

No comments:

Post a Comment