Phải ở trong một giai đoạn rất rảnh và rất nhã, ý là, phải có một sự lắng đọng nhất định trong tâm hồn, người ta mới quay trở lại đọc Flaubert. Ba truyện kể của Flaubert là cuốn sách mỏng dính nhưng vô cùng chấn động, lẽ ra nên được đưa vào sách giáo khoa văn từ lâu, thay cho hàng mớ thứ vô bổ. Chỉ riêng việc dịch nhan đề truyện "Un cœur simple" (A simple heart) cũng đã đủ gây ra một cuộc tranh luận không hề nhẹ. Bản dịch truyện này của Lê Hồng Sâm đọc rất thích, trong đó có những pha xử lý rất nuột, chẳng hạn như :
. êm ả đến mức chỉ thoảng nghe tiếng rì rầm (tellement douce qu’on entendait à peine son murmure)
. bừng nở (s’épanouir dans un désordre gai)
. vượt qua cột tiêu, thuyền đi vát (dès qu’elles avaient franchi les balises, elles commençaient à louvoyer)
. thủy thủ nhỏ, tay chống nạnh, mũ đội lệch bên tai (un petit mousse les poings sur les hanches et le béret sur l’oreille)
. bà tắt nghỉ (elle expira)
...
Bi kịch của các thánh
Trong số
tác phẩm của Gustave Flaubert, Ba truyện
kể (Lê Hồng Sâm, Phùng Ngọc Kiên dịch; Nhã Nam & NXB Thế Giới) tuy
không nổi tiếng bằng hai thành tựu lớn là Bà
Bovary và Giáo dục tình cảm,
nhưng lại có một vị trí đặc thù. Ra đời khi Flaubert đang viết dang dở Bouvard và Pécuchet, nó là tác phẩm cuối
cùng xuất bản khi tác giả còn sống. Ba văn bản ngắn và hoàn thiện này giống như
một chúc thư về thẩm mỹ, một sự cố kết hoàn mỹ cho những nỗ lực sáng tác trước
đó: “Một tấm lòng chất phác” đặt ở thời hiện đại và mang không khí vùng
Normandie rất gần với Bà Bovary;
“Truyền thuyết về Thánh Julien hiếu khách” tương đồng với Cám dỗ của thánh Antoine về yếu tố tiểu sử của các vị thánh và sự rối
loạn tâm lý; “Hérodias” gợi nhắc đến Salammbô [ref. Những mối tình bất khả] trong không khí cổ đại tiền
Ki-tô giáo.
Cả ba đều
là truyện kể về những “thánh nhân”: họ có thể là nhân vật phàm tục, có thể là
thánh trong truyền thống Ki-tô giáo, nhưng đều chọn một kiếp sống khổ hạnh, đơn
độc trong niềm tin, giống như những nghệ sĩ tận hiến luôn phải đấu tranh với nỗi
hoài nghi và tuyệt vọng. Ở truyện đầu tiên, Félicité là một cô đầy tớ điển hình
- trung thành, tần tảo, ít học - nhưng Flaubert mang lại cho mẫu nhân vật này một
kích thước mới. Độ chênh lệch giữa vẻ bề ngoài máy móc, khô cứng của Félicité
và những gì diễn ra trên thực tế được câu chuyện hé mở, đó là một tấm lòng chất
phác. Từ một cô bé chăn bò trở thành gia nhân, tiến triển tâm lý của cô được
phơi bày trần trụi: vô cùng đơn giản, chân thành nguyên vẹn suốt quãng thời
gian; không có biến cố nào tác động được vào sự ngây thơ, khiêm nhường, bộc trực
của cô. Riêng hành trình về mặt cảm xúc là đáng nói. Sống một cuộc đời đầy bất
hạnh, khúc mắc, nhưng “tấm lòng nhân hậu nơi chị rộng mở” (tr. 39). Flaubert
dành cho cô một niềm mỉa mai trìu mến, cho người đọc một cảm xúc khó phân định
giữa sự giễu cợt và lòng thương hại.
Truyện kể
thứ hai về thánh Julien là một phiên bản viết lại của huyền thoại Oedipus: có lời
sấm truyền về một kẻ giết cha mẹ, một cuộc chạy trốn rong ruổi và trở về mang
theo định mệnh không thể tẩy trừ. Chàng Julien ngày trẻ sát sinh không gớm tay,
được báo điềm rằng đứa trẻ tàn độc về sau sẽ giết cha mẹ nó. Julien đáp lại tội
ác thấy trước của mình bằng ý định tự sát không thành, rồi tuân theo một lối sống
khắc kỷ trong vai trò người lái đò thiện nguyện nhưng cuối cùng không thể thoát
khỏi lời nguyền. Truyện được kể theo cấu trúc đối xứng [ref. Ẩn ngữ của đối xứng] : sự phạm tội dẫn đến việc
đền tội. Nhưng sức căng nằm ở chỗ, Flaubert gieo cho nhân vật một sự khát máu
vô độ. Về mặt tâm lý, Julien rõ ràng là nguy hiểm và bất định, tuy điều này
không xuất hiện trong tiểu sử gốc của vị thánh. Flaubert có ham muốn viết kịch
từ trước khi ông viết văn. Phong cách kể chuyện của ông gần với kịch nghệ: cấu
trúc đối lập, những vật cản bên trong và ngoài nhân vật, sự thống nhất về thời
gian, không gian, bối cảnh, và nhất là những cái kết, đôi khi rất gần với một
bi kịch cổ điển.
Truyện kể
thứ ba, “Hérodias”, liên quan đến tích trong Kinh thánh về Jean-Baptiste (thánh
Gioan Tẩy Giả). Không chỉ thuật lại các biến cố dẫn đến vũ điệu chói lọi đầy ma
lực của Salomé, truyện kể của Flaubert được nới rộng sang những xung đột về chủng
tộc, tôn giáo và cả về phái tính. Hiện trên bề mặt là lòng thù ghét của
Hérodias dành cho Iaokanann (tên Flaubert đặt cho thánh Jean-Baptiste). Sự khổ
hạnh cuồng tín của Iaokanann (vốn coi Hédorias là hiện thân của quỷ) đối lập với
khao khát đến ám ảnh của Hérodias là trừ khử ông trước khi ông làm lung lay quyền
lực của nàng. Lớp căng thẳng ẩn giấu là về sự khác biệt giữa người La Mã và Do
Thái, giữa Ả Rập và Do Thái, hay giữa các giáo phái Do Thái Pharisi và Saduccée [xem thêm tag do thái].
Một tầng xung đột nữa dính líu đến ái tình và dục vọng. Hérodias bị Iaokanann
chỉ trích do li dị và tái giá. Vua Hérode Antipas bị người Ả Rập chê bai vì lấy
Hérodias thay vì công chúa của họ. Cuộc tranh luận bùng nổ xen giữa bữa tiệc và
những nghi lễ, bao hàm tất thảy xung đột ấy, dẫn đến vũ điệu của Salomé, một sự
tổng hòa cho cơn cuồng dại của tâm trí và thể xác.
Âm mưu lấy
đầu Jean-Baptiste được đẩy lên điểm cao trào bằng vũ điệu ma thuật của Salomé
trong một khung cảnh như nhập đồng, khiến vị vua đồng ý ban cho nàng bất cứ gì
nàng muốn, kể cả nửa vương quốc. Và như một định mệnh, ý nguyện của nàng, được
Hérodias vạch sẵn, là lấy đầu của Iaokanann dâng cho nàng (chủ đề này được
Gustave Moreau tái hiện trong bức tranh L’Apparition).
Tính lưỡng đôi của tinh thần và thể xác trong lời thuyết giáo của Iaokanann bị
chặt đứt. Với ông, cái đầu, nơi các phẩm tính ngự trị, phải cai quản thể xác,
nơi các ham muốn thú vật chiếm dụng. Phái tính nữ, theo Iaokanann, gắn bó thể
xác với những thú tính và dục vọng của con người. Quyền năng của ông nằm ở sự
chối bỏ phái nữ, còn sự yếu đuối của vua Hérode đến từ sự quy phục, khiếp đảm
trước cái đẹp nhục dục đầy tàn độc. Cũng như một định mệnh, vẻ đẹp quyến rũ và
điệu múa thôi miên của Salomé đã chiến thắng. Đặt cạnh nàng là cái đầu vô hồn của
thánh Jean. Bữa tiệc của huy hoàng, nhưng sự choáng váng, hoa mắt và quy phục lại
là định mệnh.
Ba truyện
kể ở giai đoạn cuối sự nghiệp Flaubert. Ông vẫn giữ mối quan tâm đến lịch sử
nhưng mang góc nhìn rộng hơn khi tạo ra các nhân vật thánh nhân ở những bối cảnh
khác nhau. Sự thần tình của Flaubert nằm ở chỗ, cuối cùng, mối quan hệ nhân quả
như trong quan niệm cổ điển, trớ trêu thay, chỉ là ảo vọng.
Bài liên quan :
Giai đoạn gương (Jacques Lacan)
Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy
Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy [P.2]
Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy [P.3]
No comments:
Post a Comment