24 Mar 2016

Những tấm phiếu

Đây là một tấm phiếu tôi tìm thấy ở một nhà hàng. Xét ở một khía cạnh nào đó, phiếu này có vai trò quan trọng tương đương với giấy khai sinh của Barack Obama. Chủ nhà hàng lưu việc gọi món (commande) vào một hệ thống để dùng cho việc kiểm tra, đối chiếu. Còn chính phủ Mỹ, trước nghi vấn liệu Obama có đủ tiêu chuẩn để làm tổng thống, phải công khai bản ghi giấy khai sinh của ông. Trong bản ghi này có một chi tiết thú vị là sắc tộc (race): bố là người gốc Phi, mẹ là người gốc Cáp-ca. Tuy nhiên, mẹ ông sinh ở Mỹ và người ta có cách chứng minh bà mang quốc tịch Mỹ; vậy ông Obama đủ tư cách làm tổng thống. Sự vụ này tất nhiên phức tạp hơn thế, nhưng ở đây ta nói đến những vấn đề khác.



Quay trở lại tấm phiếu nhà hàng, ta đọc được những thông tin gì từ đó ? Đầu tiên, đây là một nhà hàng Việt Nam ở Pháp. Phiếu này được xuất ở Cuisine và chuyển tới từ Caisse. Vậy tức là, người đứng ở két/ quầy tính tiền sẽ nhập món ăn vào máy, phiếu được xuất ra ở trong bếp để đầu bếp biết món cần phải làm. Tiếp theo, bàn mang số 70 và số người ăn là 1. Một nhà hàng, nhất là nhà hàng Việt ở Pháp, không bao giờ có tới 70 bàn, và cũng rất hiếm hoi mà một bàn chỉ có một người ăn, vì thế có thể kết luận, đây là phiếu dành cho một người mua mang về (à emporter/take-away), và để tránh lẫn lộn với những gọi món tại chỗ (sur place), người đứng quầy bấm một số tách xa hẳn là số 70. Thú vị phết ?

Quay lại chuyện sách vở. Hồi bé, tôi có một thói quen là mỗi khi vớ được cuốn sách nào, trang đầu tiên tôi lật ra là trang xi-nhê, tức là trang chót hoặc áp chót. Tương tự như khi đọc tờ An ninh thế giới, đầu tiên giở ra trang sau cùng, tiếp theo là trang áp chót :p Trang này của cuốn sách là cả một thế giới, ta biết được thông tin về nơi xuất bản, người biên tập, nhưng quan trọng nhất là đoạn dưới cùng, nơi có những thông tin rất ma mị là in bao nhiêu bản, in xong và nộp lưu chiểu tháng nào năm nào. Tôi còn nhớ là quyển Tuyển tập 30 năm tạp chí Toán học tuổi trẻ in đến 10.000 bản.

Nhưng về sau, tôi nhận ra là trang này là một đặc thù của Việt Nam (hoặc các nước xã hội chủ nghĩa, chuyện này tôi không rõ). Những nhà xuất bản phương Tây không dùng trang này. Họ thậm chí không có thông tin về người biên tập, sửa bản in hay thiết kế bìa. Chiếu theo cách làm của nước ngoài, trang xi-nhê của Việt Nam chỉ có một thông tin hữu ích là số ISBN của cuốn sách (sau này mới có, và theo chuẩn mới là 13 số). Nhà xuất bản nước ngoài, họ đăng các thông tin về mặt lưu trữ của cuốn sách vào trang thứ 2. Dưới đây là một ví dụ.


Đây là một cuốn sách về Léon Blum của Pierre Birnbaum, do Arthur Goldhammer dịch từ tiếng Pháp, in tại ấn quán đại học Yale. Sách in ở Mỹ nói chung luôn rất nghiêm cẩn về mặt thông tin lưu trữ, tất cả đều thông qua hệ thống biên mục (catalogue) của Thư viện Quốc hội. Để ý kỹ hơn, ta thấy họ dùng một hệ thống đề mục và hai hệ thống phân loại.

Chẳng hạn: Statesmen–France–Biography ; Socialists–France–Biography hay France-Politics and government–1914-1940

Đây là cách ghi dựa theo khung "tiêu đề đề mục" của Thư viện Quốc hội Mỹ (LCSH). Tiếng Anh là subject headings, tương đương tiếng Pháp là vedettes-matières.

Tiếp tục, ta thấy có hai số phân loại : DC373 [...] và 944.081 [...]

Mã số đầu tiên là theo phân loại của Thư viện Quốc hội (LCC). Theo cách gọi này, lớp D dùng để chỉ lĩnh vực Lịch sử, và lớp con DC để chỉ Lịch sử Pháp. Đi sâu hơn ta có số 373 chính là để chỉ France-Politics and government–1914-1940.

Tương tự, 944.081 là mã số theo cách phân loại thập phân Dewey (DDC), cách này có thể thấy ở hầu hết các thư viện trên thế giới. Rất đơn giản, 944 dùng để chỉ Lịch sử Pháp (và Monaco). 944.081 để chỉ Lịch sử Pháp ở nền Cộng hòa thứ Ba (1870-1945). Lớp lớn hơn của nó, 944.08, để chỉ lịch sử Pháp từ năm 1870 đến nay (nền Cộng hoà thứ Ba, Bốn và Năm). Thông tin về người biên tập, chủ biên, người viết lời giới thiệu, lời bạt, nếu cần trang trọng, họ để ở trang nhan đề, ngay dưới tên tác phẩm; còn ngoài ra, không nhất thiết phải đề. Thông tin về số bản in, in xong và nộp lưu chiểu ngày mấy tháng mấy cũng không cần thiết (nơi in và năm in thì có).

Các nhà xuất bản ở Việt Nam thì như nào? Dưới đây là trang 2 cuốn Những câu chuyện thành Rome. NXB Trẻ từ cách đây vài năm đã bắt đầu kèm theo biểu ghi biên mục.


Tôi không rõ những nơi xuất bản khác thì sao, nhưng Nhã Nam chưa thấy làm. Đây là trang 2 cuốn Vụ án


Một vai trò của việc lưu trữ và của văn bản lưu trữ (archival document hay record) là giữ được tính integrity, bên cạnh identity. Tính integrity nói lên nhiều điều về cách mà văn bản được lưu giữ và xử lý, liệu quy trình đó có lỗi hay bị mục ruỗng theo cách nào đó không, liệu quy trình và hệ thống ấy có đủ để tin tưởng. Cái biên mục nắm một vai trò như thế, tương tự như vai trò của tấm phiếu nhà hàng hay bản ghi giấy khai sinh của Obama.

Đây không chỉ là vấn đề của NXB, mà còn là vấn đề của hệ thống thư viện Việt Nam. Ta để ý, biểu ghi biên mục của NXB Trẻ được biên bởi Thư viện KHTH Tp.HCM, không phải do Thư viện Quốc gia. Nền khoa học thư viện của Việt Nam đang ở đâu, và Thư viện Quốc gia đã làm những gì trong những năm qua ? Có thể hình dung phần nào khi nhìn vào hình thức sơ khai nghèo nàn của trang web này. Khi cần tra cứu danh mục, ta được đưa đến địa chỉ này (thậm chí còn không có tên miền riêng). Ngoài giao thức Z39.50 là phần lõi, giao diện của trang này trông phát chán và các chức năng vô cùng nghèo nàn.

Các nghiên cứu viên của Thư viện Quốc gia VN nên dành chút thời gian vào trang web của Thư viện Quốc gia Pháp xem họ đã làm được gì và những năm qua người ta đang nghiên cứu về cái gì. Bên cạnh kho tư liệu Gallica chắc nhiều người đã biết, còn có Data của BnF, một dự án về kết nối siêu dữ liệu (metadata) thuộc hàng cấp tiến nhất. Thư viện đang phát triển theo hướng đa ngành, có được một chân nghiên cứu ở BnF còn oách hơn vô École des Chartes (just kidding). Ông Ngô Đình Nhu chắc khó có thể tưởng tượng ra hướng mà giờ đây đa số cựu sinh viên trường Pháp điển đi theo : thư viện số. 

Bài liên quan :

Đừng mơ từ bỏ sách giấy

No comments:

Post a Comment