[dạo này mắt tôi cận rồi, nên cho phông to lên tí, cắt bớt mấy cái rườm rà nhìn cho rõ :3]
Tháng Sáu năm 1940 u mê và tao loạn. Mùng 10 ấy,
Mussolini tuyên chiến với Pháp-Anh, đẩy quân đoàn sơn chiến Alpes (một thời
kiêu hãnh dưới trướng Victor-Emmanuel II) vào trận chiến ô nhục với quân Pháp
đã lụn bại, chỉ để hai ngày sau hạ chí, tờ Tin tức Paris loan báo hiệp định
đình chiến Pháp-Ý, khép lại cuộc tiến công tang thương vô ích.
Văn chương có khả năng khơi gợi sâu sắc cảm nhận
về một thế giới hoang vu bạo liệt ta chưa từng biết đến, và hơn thế nữa, sự thức
tỉnh từ trong sâu thẳm thế giới ấy. Hiếm có nhà văn nào kéo ta rất gần mà cũng
rất xa chiến trận như Curzio Malaparte trong Mặt trời mù (Bửu Ý dịch,
Nhã Nam & NXB Văn Học). Rất gần vì tác giả viết bằng trải nghiệm của chính
mình trong vai trò đại úy của quân đoàn Alpes. Rất xa vì nhân vật đại úy ở mà
như không ở trong trận chiến ấy, anh ta buông trôi hết thảy, bước qua lằn ranh
phân định của thiên nhiên và thực tại.
Chiến sự diễn ra ở một cao nguyên nơi biên giới
Pháp-Ý, cao ba nghìn thước gần ngọn Bạch Sơn (Mont Blanc). Trong cơn bão tuyết,
đoàn sơn binh khinh bộ Ý phải vượt qua những lộ trình cam go nhất của vùng núi
Savoie, từ đèo Seigne đổ dốc xuống thị trấn Băng Hà để đánh vào đồn Seloge. Giữa
các chóp đỉnh của dãy Alpes, “mặt trời qua sương mù, tròn, trắng, cố định, như
con mắt không mi” (tr. 102). Nhìn ở chiều thẳng đứng, mặt trời giống như vị tướng
soái mục kích tất cả, soi rõ hành động của con người. Trơ trọi ở nơi khốn cùng
nhất của trận chiến, sau đỉnh đèo Seigne, là cái ghế băng dưới bóng tiêu huyền
nơi chàng đại úy đi tìm gã sơn binh chính trực Calusia và đã phát điên.
Bước đến cái ghế là “một bước ra ngoài một giới
hạn, ra ngoài một nguyên lý, ra ngoài một quy tắc, ra ngoài một trật tự"
(tr. 56). Đó là nơi sống chết chẳng màng và chiến tranh không còn nghĩa lý, nơi
nhen nhóm một sự khải thị rằng con người quả thực là tạo vật của Chúa. Ý nghĩa
của chiến tranh nhường chỗ cho sự buông trôi của ý thức. Ở đó, ta cảm nhận sâu
sắc rằng chính sự “nhòa”, chứ không phải sự phân định rạch ròi của cõi nhị
nguyên, mới là chỗ khởi sinh của tạo vật. Nhòa giữa tỏ tường và vô định, nhòa
giữa nặng và nhẹ: cái nặng của kim khí, nhẹ của xác thịt, cái nặng của sự trôi
và nhẹ của sự rơi rớt [về sự rơi rớt, đọc thêm đây và đây]. Đó là sự chơi đùa giữa người và vật chứ không còn là ý
thức duy ý chí của con người về sự sống còn.
Trong ranh giới này chỉ còn lại những gì thăm
thẳm, vời vợi và trong trẻo, những gì huyền nhiệm, bí mật và vô tội, “nơi con
người ít tương quan nhất với những sự việc ngẫu nhiên có tính cách người, những
gì ít liên lụy đến số phận con người hơn cả” (tr. 93). Con người và cả xung
quanh họ chỉ còn là những tạo vật thuần khiết, vô tư. Nơi đó, sự bất toại ý nếu
có, chỉ diễn ra dưới hình thức những sơn binh đánh nhau với thiên thần. Chiến
tranh và thù địch là những ý niệm của một thế giới vô luân phàm trần, giống như lời biện bạch của đại úy
khi đặt điếu thuốc vào môi người tù binh đang ngã quỵ, “Chúng tôi không phải là
bọn dã man”.
Khoảng cách giữa tự nhiên và xác thịt bị thu
rút thành một khối nhiễu nhương, thẩm thấu, giữa đó là người và vật: “loài hoa
như bằng thịt”, “rêu như tóc”, đôi mắt “đầy cây, đá với mây” của một con lừa
bị lột da, đêm là con thú gớm ghiếc và hung bạo. Mọi thứ chuyển hóa theo một
cách thức kỳ diệu, tự nhiên tựa hồ trái ngược với những gì ta từng cảm nhận.
Ấy là lúc của sự chuyển thể chậm rãi từ chất kim khí của khí giới, đạn dược
sang chất sinh vật. Và chàng đại úy được an toàn trú ẩn trong khối tạo vật có
âm sắc, có mùi hương, có trọng lượng nhục thể – trong lòng con thú vĩ đại ấy.
Ở chương cuối là thời điểm hè sang. Thiếu tá Cattaneo tin rằng lúc tiểu đoàn Edolo tấn công đồn Seloge và đèo Fours thì sẽ có mặt trời. Mặt trời sẽ trở lại minh định cho chiến tranh và thù địch, còn những gì xảy ra trước đó đã tụ chung vào sự “hiện diện mất trí”, như viên đại úy, như Calusia và cái ghế băng sau đỉnh đèo Seigne. Tác phẩm mang một mối tiên cảm. Lịch sử, cái khái niệm thuần ý chí của con người, sẽ chẳng màng đến sự hiện diện mất trí dưới vầng mặt trời mù năm ấy, nếu không tồn tại những nhà văn như Curzio Malaparte trong một lát cắt nhỏ bé của chính nó.
-=-=
Ngoài ra cũng có thể nhắc đến mấy cuốn sau :
Song of myself - Bài hát chính tôi, Walt Whitman
Hoàng Hưng
dịch, NXB Hội Nhà Văn, 120.000 đồng
Thơ của Whitman và tiểu luận của Emerson được xem là chỉ dấu cho thế
giới mỹ học mới của văn học Mỹ. Bỏ qua những bơm thổi về lý tưởng bình quyền, tự
do, bác ái mà người ta thường gán tặng cho tượng đài thi ca của nước Mỹ, thơ
Whitman có sự an tĩnh và tự chủ phi thường, nhưng vẫn ngầm mang một niềm kiêu
hãnh. Ở nơi đồng hành của thẩm mỹ và đạo đức, người ta học được từ thơ ông niềm
tôn kính với những gì con người chưa thể thấu nhận.
Những câu chuyện
thành Rome, Alberto Moravia
Thanh Gương dịch, NXB Trẻ, 269 trang, 70.000 đồng
Sinh tại Rome, Alberto Moravia bước vào văn đàn và nổi tiếng từ sớm. Mối
ác cảm của chính quyền phát xít buộc ông phải lánh nạn trong vùng phụ cận Rome.
Cuộc sống gần gũi với thiên nhiên mang lại một kinh nghiệm phong phú cho giai
đoạn sau. Khi chủ nghĩa phát xít chấm dứt cùng với bệnh lao, tác phẩm của ông được
giải thoát khỏi những hạn chế của góc nhìn thị dân trí thức, giúp ông trở thành
nhà văn hiện thực và táo bạo của thế giới hiện đại, với tài phân tích tâm lý và
khuynh hướng triết lý rõ nét.
No comments:
Post a Comment