16 Dec 2015

Văn học Do Thái - Gia đình Moskat

Đã có lần tôi thử làm một khảo sát nhỏ về văn học Do Thái, và một phát hiện (không hề mới) là nền văn chương này vô cùng phong phú và tản mát, so với những khái niệm, chẳng hạn như "văn học Việt Nam" hay "văn chương Việt". Điều này tương ứng với mức độ xê dịch của dân tộc này và tính hoà tan của họ vào nền văn hoá bản địa nơi họ đặt chân tới. Đầu tiên phải kể đến ngôn ngữ. Thế nào là tiếng Do Thái? Là Hebrew, hẳn rồi, thế còn Yiddish. Đây là thứ tiếng người Do Thái dùng ở Đông Âu, nơi chủ yếu là người Do Thái hệ Ashkenazi. Nó dùng bảng ký tự hơi giống với tiếng Hebrew, nhưng đọc khác hẳn, gần giống tiếng Đức. Đứa bạn tôi người Đức bảo nó nghe tiếng Yiddish hiểu được tám mươi phần trăm. Người Do Thái cổ còn dùng tiếng Aramaic, tiền thân của tiếng A Rập, nhưng ở đây ta không xét đến.

Một trong những lý do Isaac Bashevis Singer đoạt giải Nobel văn học là vì ông viết bằng tiếng Yiddish, thứ chữ viết và tiếng nói đang dần biến mất, kể từ khi người Do Thái ở Đông Âu lũ lượt di cư do những đợt bức bách cuối thế kỷ 19, rồi đầu thế kỷ 20, nhất là sang Mỹ và Palestine. Nhắc đến I.B. Singer để nói đến một khía cạnh khác của nền văn chương Do Thái, đấy là những nhà văn di cư gốc Do Thái. Họ viết bằng thứ tiếng khác, thứ tiếng của nơi họ cư trú, nhưng vẫn được coi là thuộc dòng văn chương Do Thái. Ở Mỹ ta có Chaim Potok, ông này sinh ở Mỹ (bởi thế, ông viết bằng tiếng Anh) nhưng thuộc lớp người Do Thái di cư gốc Ba Lan. The Chosen, cuốn nổi tiếng nhất của Potok, lấy bối cảnh ngay ở New York, ngay sau Thế chiến hai, khi tin tức hé lộ về Holocaust dần dần được lan truyền sang Mỹ. Người ta có thể xác định ngay ông là một nhà văn Do Thái, dù viết bằng tiếng Anh, vì Potok còn là một rabbi, tức có thể hiểu là một người thực hành tôn giáo nghiêm ngặt, một người "toàn tòng". Nhưng một "người Do Thái" thực sự là cái gì, nếu không phải là một khái niệm gắn liền với tính tôn giáo? Vấn đề này sẽ được trở lại sau, nhưng có thể xem đây là một ví dụ của một ethnoreligious group.

Một vài nhà văn Mỹ ít "tính Do Thái" hơn, nhưng đứng vào một bảng phân loại văn học tạm gọi là serious hơn, đóng góp thực sự cho nền văn chương Mỹ, là những Philip Roth (cũng di cư từ Ba Lan, gốc ở Galicia) hay Saul Bellow. Gọi họ là những nhà văn Do Thái quả có phần khiên cưỡng.

Elie Wiesel là một trường hợp khác hẳn. Ông quốc tịch Mỹ, nhưng là một nhà văn Do Thái không lẫn vào đâu được. Cuốn Đêm là một lời chứng cảm động về Holocaust. Sự xuất hiện của nó làm thay đổi hoàn toàn quan điểm của những ai không bao giờ tin là có những chuyện như thế thực sự xảy ra. Nhờ cuốn này mà ông đoạt giải Nobel hoà bình. Tôi còn nhớ đoạn kể vào giai đoạn đầu chiến tranh, tác giả còn bé, sống cùng gia đình ở một làng ở Romania. Cậu lưu tâm một anh chàng nọ vì trông ngây ngô, đần đần (hơi giống với nhân vật chính trong truyện ngắn "Gimpel the Fool" của I.B. Singer), bị người trong làng trêu trọc. Rồi anh này bị đưa đi trại tập trung, không hiểu nhờ phép màu nào mà chạy thoát được về, mếu máo, trối chết báo tin cho mọi người trong làng về những điều kinh khiếp anh ta đã trải qua và chứng kiến, nhưng không một ai tin, cho rằng anh này bị khùng. Trong lời tựa cho bản tiếng Anh quyển Đêm, François Mauriac kể một lần nọ ông nhận lời trả lời phỏng vấn một nhà báo đến từ Israel. Ông kể lại ký ức xúc động nhất trong giai đoạn résistance (nước Pháp bị Nazi chiếm đóng) là nhìn thấy ánh mắt của những đứa trẻ Do Thái bị gom lại (có một chữ dùng cho từ này: round-up; và một phim cũng tên là The Round Up nói về đề tài này; em gái Mélanie Laurent xinh đẹp đóng vai chính; về Mélanie xem ở đây và đây :p) và đưa đi trại tập trung. Nhà báo ấy, chính là Elie Wiesel, trả lời rằng tôi cũng từng là một trong những đứa trẻ như thế.



Trở lại cuốn sách mà tôi muốn nhắc đến, Gia đình Moskat. Tác giả ban đầu viết nó dài kỳ trên một tờ báo tiếng Yiddish ở Mỹ. Không cần kể đến bối cảnh đậm đặc chất Do Thái trong truyện, thì đây vẫn đáng là một cuốn tiểu thuyết saga gia đình xuất chúng. Thậm chí tôi còn thấy nó cuốn hút hơn nhiều so với Gia đình Buddenbrook, và hay ho không kém Bác sĩ Zhivago. Con số nhân vật tuy không đến ba trăm như Chiến tranh và hoà bình nhưng cũng ngót nghét số đó. Dưới đây là bảng phả hệ các gia tộc chính dây dưa móc nối lằng nhằng trong suốt cuốn tiểu thuyết.




Có thể là một đặc tính của tiểu thuyết đăng dài kỳ trên báo: ở bất cứ một phân đoạn nào (mỗi chương, hoặc mỗi phần của chương) ta đều thấy xuất hiện một hình ảnh đẹp đẽ, một mẩu đối thoại hoặc độc thoại đáng nhớ, một mối dằn vặt hay sự hóc búa hay một nan đề nào đó mà nhân vật gặp phải. Bối cảnh của truyện là đời sống người Do Thái ở Warsaw từ năm 1911 đến cuối những năm 1930, khi Hitler đã lên nắm quyền và bóng ma bài Do Thái mang sức nặng ngày một rõ. Một tiểu vũ trụ ngay giữa lòng Warsaw, vô cùng chộn rộn, nhộn nhạo, đầy những lễ lạt, đình đám vui tươi thấm đẫm màu sắc Orthodox, và cũng không thiếu những bi kịch gia đình. Ở đó ta chứng kiến cả những làn sóng thay đổi trong tư tưởng như phong trào thế tục hoá, chủ nghĩa Zion, chủ nghĩa xã hội và Mác-xít, đến những chuyển biến nhỏ bé nhưng day dứt và dai dẳng trong lòng một con người. Chẳng hạn: số vụ li dị trong truyện vô cùng nhiều, gần như mỗi một nhân vật quan trọng trong truyện đều có ít nhất một lần li di (xem bảng phả hệ), tức là, theo một nghĩa nào đó, họ bị lừa dối/phản bội trong tình yêu và sau đó tìm thấy tình yêu mới nhanh một cách kinh hoàng. Hoặc chẳng hạn, ở những giai đoạn chiến tranh, khi có một người Do Thái đăng lính, nếu không tập trung vào mạch truyện ta rất khó nói anh ta đi theo phe nào. 

Nhân vật chính trong Gia đình Moskat là Asa Heshel. Anh chàng này nằm trong bảng phả hệ của nhà Moskat (lấy cháu gái gia tộc này) và nhà Bannet (gia đình anh). Xuất thân từ một làng quê nghèo nhưng ông ngoại là một rabbi, anh chàng hiếu học khăn gói lên Warsaw mong có một điều kiện để trau dồi sở học và phát huy khả năng của mình. Sóng gió rồi tình trường khiến cho anh phiêu dạt khắp nơi (tất nhiên chỉ loanh quanh mạn Ba Lan Đông Âu), va vấp hết người vợ thứ nhất rồi người vợ thứ hai, đăng lính lần đầu rồi lại đăng lính lần tiếp, nhưng cuối cùng vẫn không một xu dính túi, không một người phụ nữ nào chính thức bên cạnh, chỉ còn sót lại ở anh tính ham học, ham mê tìm hiểu thế giới (hơi có xu hướng naturalistic), và dù có bết bát thế nào cũng phải truy tìm đến tận cùng bản chất của cái đẹp, của thẩm mỹ và đạo đức – mặc dù, bản thân đạo đức của anh thì cũng lập lờ mông lung thật khó mà hiểu nổi. Và xuyên suốt dòng đời của Asa Heshel, đi theo những cuộc gặp gỡ  và mối va chạm của các nhân vật, ta thấy một nét hài hước đậm tính Do Thái, một thứ hài hước theo kiểu tự troll


Asa Heshel là một mọt sách, ngoài sách ra anh không hề chăm lo gì cho mẹ mình, cho những phụ nữ của mình, hay quan tâm cẩn mực đến chuyện kiếm tiền hay học hành thành tài. Nhưng anh luôn kè kè bên người quyển Đạo đức học của Spinoza. Người Do Thái, bên ngoài triết học rabbi, triết gia họ đề cao nhất có lẽ là Spinoza, vốn là một người Do Thái gốc Hà Lan (vốn di cư sau những vụ áp bức người Do Thái ở bán đảo Tây-Bồ) nhưng bị công đồng ở địa phương Amsterdam tước phép thông công (ex-communicated). Ông là một dạng thần đồng về triết học nhưng không phải genius kiểu tự nhiên mà được hình thành do truyền thống hiếu học của người Do Thái. Đại để là tầm bảy tuổi ông đã vào học một trường dạy Talmud và Torah cho những đứa trẻ (gọi là yeshiva); mười ba tuổi được học kinh Talmud và triết học Do Thái trung cổ, như những đứa trẻ được hướng trở thành rabbi sau này (dù đôi khi cũng không hẳn là để trở thành một rabbi mà chỉ đơn giản là để học sâu thêm về Luật Thiêng aka Holy Law). Nhưng việc truy tầm kiếm thức của Spinoza không được đặt trong một sự tự do hoàn toàn vì ông thuộc về dòng người converso (cải đạo) đến từ bán đảo Tây-Bồ (người Cơ Đốc mới aka Marrano).

Hạnh phúc và đạo đức quan là một, điều này không chỉ định đề trong quyển Đạo đức học của Spinoza (quyền này được trình bày theo một lối rất toán học) mà còn là kết quả tự nhiên của cách ông nhìn thế giới. Các phản tư đều dẫn ông đến kết luận rằng mục đích duy nhất của kiếp nhân sinh là sự tận hưởng niềm vui thú (như trong Torah cũng hứa hẹn rằng mưa là phẩn thưởng cho sự tuân theo những huấn lệnh của Chúa trời). Asa Heshel ôm lấy quyển Ethics như bí kíp bất di bất dịch, nhưng quá nhiều ái lực aka sóng gió cuộc đời ngăn cản những mục đích hướng đến chân thiện của anh.

Cũng cần phân biệt Isaac Bashevis Singer với anh trai ông là Israel Joshua Singer, cũng một nhà văn đại tài và có một quyển saga gia đình cũng xuất chúng không kém: Anh em Ashkenazi, lấy bối cảnh một gia đình tiểu tư sản gốc Do Thái ở Łódź, nơi mà dân số Do Thái khoảng năm 1900 chiếm một phần ba, và tên đọc theo tiếng Ba Lan một cách khá quái gở hehe là WOO-tsh.

No comments:

Post a Comment