Chính thống và cấp tiến
Đến
đầu thế kỷ 19, vẫn chưa tồn tại khái niệm Do Thái giáo chính thống (Orthodoxy[1])
mà chỉ có sự phân biệt giữa Ashkenazim[2] và Sephardim[3],
hay Chasidim và Mitnagdim. Một nhánh Do Thái, ảnh hưởng mạnh nhất ở Đức, muốn
cách tân các truyền thống có từ thời trung cổ bằng chủ nghĩa duy lý thực chứng
ở thời mình. Những người chống đối lại ý muốn thay đổi này được xem là Do Thái
Chính thống. Lý lẽ của họ là Torah được Chúa trời trao cho Moses trên núi
Sinai, vì thế những giới luật của nó là bất di bất dịch, kể cả không tương
thích với đời sống hiện đại. Một phần trong số họ thậm chí còn không chấp nhận
một nhà nước Do Thái (tức là chống lại chủ nghĩa Sion) vì họ coi nhà nước đó là
do con người lập nên, không phải do Chúa trời. Cơ sở cho niềm tin và thực hành
tôn giáo của người Do Thái Chính thống là học thuyết được biên trong Talmud,
toàn bộ giới luật này được gọi là halakha.
Trong khi đó, nhánh cải cách cho rằng truyền thống Do Thái luôn là một dòng chảy, và bản thân Do Thái giáo là một thực thể biến đổi không ngừng (tất nhiên theo hướng tốt lên). Nhánh này nảy nở ở châu Âu thế kỷ 19, khi những người Do Thái vừa thoát ra khỏi các ghetto muốn tìm hướng khả dĩ giúp Do Thái giáo thích nghi với một “địa vị công dân” mới ở nơi chốn mới của họ. Họ vẫn tin vào hiệu lực vĩnh cửu của truyền thống Do Thái, nhưng muốn nó thích ứng với đời sống hiện đại. Họ có thể chối bỏ những rao dạy thời trung cổ đi ngược lại lương tâm và đạo đức. Họ cũng thỉnh thị halakha, nhưng sau rốt, lương thức cá nhân vẫn dẫn họ đến những cái họ coi là hiệu lực vào thời đại của mình. Chẳng hạn, họ coi phụ nữ bình đẳng với đàn ông, họ chấp nhận rabbi là nữ giới, không phải vì halakha khuyên họ bình đẳng giới, mà vì đời sống hiện đại cho họ thấy rằng bất bình đẳng giới vả chăng không phải là điều mà Chúa muốn[4]. Tuy vậy, trên hết, mọi nhánh Do Thái giáo đều tra cứu, tham khảo halakha. Cách quy định halakha được thực hiện theo kiểu “án lệ” (case law). Trước khi có ai đó nêu lên thắc mắc, chẳng hạn tín đồ có được hút thuốc hay hội đường có được nhận tiền quyên cúng, các rabbi không nắm trong tay mọi câu trả lời. Người thắc mắc phải biên thư, gửi cho một rabbi chuyên trách hoặc một ủy ban, nơi này sẽ chẩn định và đưa ra câu trả lời.
![]() |
| Hội đường Tempel, Kraków (Source : WikiProject Poland) |
Do
Thái giáo Cải cách (Reform Judaism) xuất hiện ở Ba Lan vào đầu thế kỷ 19 cùng
với sự bùng nổ của Haskalah, một phong trào Khai sáng khởi đầu ở Đức vào thế kỷ
18 và lan rộng về phía đông. Moses Mendelssohn[5], nhà triết học Đức gốc Do
Thái đặt nền móng cho phong trào này, biện luận rằng “ở nhà chúng ta là Do
Thái, nhưng ra đường chúng ta là người Đức”. Những tin đồ của phong trào này, maskilim, tin vào căn cước của họ: là
một công dân của châu Âu và coi đất nước họ đang sống là tổ quốc.
Ta
hãy thử xem một số yếu tố kiến trúc của hội đường Tempel, được xây vào quãng
1860-1862. Hình trên (Jakub Hałun chụp, WikiProject Poland) cho thấy không gian
bên trong mang hơi hướm của những nhà thờ Tin Lành ở Vienna và một số thành phố
Đức: ghế dài hướng về trước, không có bimah ở trung tâm (bimah hiện có được đặt
vào sau Thế chiến hai). Quân Nazi từng trưng dụng nơi này làm chuồng ngựa và
nhà kho, đó là lý do giúp hội đường còn tồn tại sau chiến tranh. Những năm 50,
chính quyền Cộng sản Ba Lan đã tu sửa lại kiến trúc khung và mái, phục hồi lại
những cửa sổ kính hoa. Ngoài ra, phần lớn nội thất trong hội đường này vẫn giữ
nguyên trạng sau hơn nửa thế kỷ, và cho đến nay, không những vẫn uy nghi và
đường bệ, mà còn mang chiều sâu của một mảng bi thương của lịch sử.
[1] Xét về từ nguyên, gốc tiếng Hy Lạp là “orthos doxa”,
hay “đức tin chuẩn”, ý nói được mọi người chấp nhận, trái với tà thuyết hay lạc
giáo.
[2] Nhánh đến từ phương bắc châu Âu, bị xua đuổi khỏi Anh,
Pháp vào thế kỷ 13, 14, sau đó định cư ở Đức, rồi Ba Lan và Nga, nơi họ phát
triển ngôn ngữ riêng là Yiddish.
[3] Nhánh đến từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, nơi người Hồi
giáo chiếm ưu thế; sau khi Ki-tô giáo nổi lên, người Do Thái bị trục xuất khỏi
đây năm 1492, hầu hết họ dừng chân ở các nước A-Rập ở Bắc Phi và Trung Đông.
[4] Đọc thêm Rabbi Morris N. Kertzer, What is a Jew.
[5] Ông nội của nhà soạn nhạc Felix Mendelssohn. Về gia
đình Mendelssohn, có thể đọc thêm cuốn tiểu thuyết mới của Diane Meur, La Carte des Mendelssohn. Cuốn này xoay
quanh cuộc đời của Abraham Mendelssohn, một đời bình thường của một người làm
ngân hàng nhưng lại "kẹp" giữa hai thiên tài: cha mình là triết gia
được xem như Socrate của nước Đức, con mình là thần đồng âm nhạc còn sớm phát tiết tinh hoa hơn cả Mozart.


No comments:
Post a Comment