21 Sept 2015

Holocaust và người Do Thái (5)


Phần Ba: Những gì còn nguyên vẹn


Những đống đổ nát mang lại một ấn tượng chóng vánh và bi thảm về một phần quá khứ sống động. Nhưng nhìn vào đó chưa đủ. Ở Galicia, người ta vẫn tìm thấy nhiều nơi đã may mắn thoát khỏi sự tàn phá của chiến tranh và được giữ nguyên vẹn cho đến ngày nay. Trước tiên hãy nhìn vào bản đồ để định vị vùng mà chúng ta xem xét.

Tấm bản đồ dưới đây cho thấy vị trí của Galicia vào giữa thế kỷ 19. Đây là một tỉnh thuộc Đế chế Áo-Hung từ năm 1795 cho tới 1918, thời điểm kết thúc Thế chiến thứ nhất. Từ thời điểm cuộc Chia cắt đầu tiên năm 1772, đất nước Ba Lan không còn tồn tại trên bản đồ mà bị chia làm ba mảnh, rơi vào tay của Áo-Hung, Nga và Phổ. Đến Đại hội Vienna (1815), các đại sứ châu Âu ngồi lại họp bàn tái phân chia lãnh thổ, phần Ba Lan do Áo sở hữu được đặt tên là Vương quốc Galicia và Lodomeria, đến năm 1846 thì Cộng hòa Kraków được nhập vào. 

Như vậy ta có bản đồ Galicia giữa thế kỷ 19 như đã thấy. Cũng sau Đại hội Vienna, Vương quốc Lập hiến Ba Lan (Kongresówka) ra đời, thuộc sự cai trị của Đế chế Nga cho đến hết Thế chiến thứ nhất[1]. Đây là phần góc trái phía trên bản đồ. Bên dưới ta thấy một mẩu nhỏ, là Cộng hòa Kraków, sau Đại hội Vienna được hưởng quy chế “thành phố tự do”, do ba ông lớn cùng quản lý; đến năm 1846, giới quý tộc Ba Lan (szlachta) tổ chức một cuộc nổi dậy ở Kraków nhằm khôi phục cố quốc nhưng sớm bị Áo đem quân dập tắt, sau đó người Áo châm ngòi cho nông dân địa phương tiến hành cuộc thảm sát giới quý tộc và trung lưu, còn gọi là cuộc thảm sát Galicia[2]. Karl Marx ca ngợi cuộc nổi dậy này rất, nhưng tôi sẽ không đi sâu. Kết quả là thành phố Cộng hòa Kraków bị sáp nhập tỉnh Galicia thuộc Đế chế Áo-Hung hehe.


 Zồi, tiếp theo ta xem tấm bản đồ Đế chế Áo-Hung năm 1910, tức là cương vực đã tương đối ổn định trước khi lụi tàn tám năm sau đó. Vùng Galicia gồm hai dân tộc lớn sinh sống, nửa phía tây nói tiếng Ba Lan, nửa phía đông nói tiếng Ukraine. Hai thủ phủ, hạt nhân chính của vùng này là Kraków và Lviv (hay Lwów; tiếng Đức là Lemberg).


 Đời sống Do Thái ở Galicia thay đổi đáng kể vào thế kỷ 19. Nửa đầu thế kỷ chứng kiến sự lan rộng của Hasidim, phong trào vươn lên chi phối đời sống tín bái của người Do Thái. Vào nửa sau thế kỷ, người Do Thái được tự do hơn, nhưng cũng gặp phải nhiều khó khăn về kinh tế và những hình thức mới của chủ nghĩa chống Xê-mít. Đây là hai nhân tố dẫn đến việc họ di cư ồ ạt khỏi Galicia, phần lớn sang Mỹ. Đây cũng là lúc thế giới Do Thái phân hóa sâu sắc hơn trước, với sự ra đời của nhiều phong trào: chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Zion[3] và cải cách tôn giáo. Người Do Thái đăng cua vào đại học nhiều hơn, cởi mở hơn và đón nhận nhiều hơn phần văn hóa Ba Lan. Đạo Do Thái chính thống cũng có nhiều thay đổi, trong số đó là việc xuất hiện hệ thống trường học dành cho nữ. Đến sau Thế chiến thứ nhất, Ba Lan giành lại độc lập, cái tên Galicia không còn, và người Do Thái ở đây phải bắt đầu thích nghi với hoàn cảnh mới. Văn hóa Do Thái trước ngưỡng Holocaust khá đa dạng, với tỉ lệ đông người Do Thái thế tục; song, hình ảnh chung nhất của nền văn hóa Do Thái ở Galicia trước Thế chiến hai, đó là những hình thức cổ điển của một đời sống Do Thái truyền thống, nhất là ở mặt tôn giáo.


 Trái với những tấm hình ở các phần trước, hình hội đường này ở thị trấn Łańcut là minh chứng hiển hiện cho thấy không phải tất thảy di sản Do Thái ở Ba Lan đều nằm dưới đống hoang tàn. Kiến trúc, lối chạm khắc và cách phân bổ màu sắc làm tôn vẻ uy nghi, đường bệ của bimah nằm giữa gian phòng. Bimah, nơi đặt kinh Torah được trang trí với những hình ảnh biểu tượng trong Kinh thánh; trên những bức tường bao quanh hội đường là những dòng chữ cầu nguyên, cùng những những tranh vẽ thú vật, các ký hiệu hoàng đạo và trang trí bằng hoa văn. Lý do hội đường được trang trí nhiều như vậy, một phần, là vì sách vở vào thời điểm ấy (thế kỷ 18) đắt đỏ, tín đồ vào hội đường có thể đọc được lời cầu nguyện, đọc các biểu tượng và ám từ rải rác ở trên tường.

Đây là kiến trúc hội đường phổ biến của người Do Thái Ashkenazi. Đằng sau bimah ta có thể thấy Aron Hakodesh (hay Holy Ark, tức hòm thánh hay khám thánh) nơi đặt cuộn kinh Torah khi không dùng đến. Khám thánh này luôn nằm trên bức tường hướng về phía Jerusalem. Vào thời trung cổ, khám thánh này được thiết kế giống như hòm thánh mà các bộ lạc Israel làm ra trong hành trình từ Ai Cập đi về miền đất thánh.

Mặc dù ngôn ngữ của người Ashkenazi là tiếng Yiddish[4], song ngôn ngữ phụng vụ trong các hội đường truyền thống luôn là tiếng Hebrew. Người Ashkenazi khi thiết lập hội đường này có một cách diễn giải đạo Do Thái của riêng họ; chẳng hạn, nam và nữ không ở cùng chung hội đường, hay nói cách khác, phụ nữ không được phép đi cùng nam giới vào trong hội đường.


 Tương phản là hình hội đường Tempel ở Kraków thuộc nhánh Do Thái giáo cấp tiến (Progressive), thành lập vào thập niên 1860. Nhánh cấp tiến này xuất phát từ trong giới những bác sĩ, giáo sư, luật sư hay trí thức người Do Thái hàng ngày tiếp xúc với những người ngoài đạo và họ cảm thấy xa lạ với những giới luật khắt khe của Do thái giáo truyền thống. Nhánh này phát triển nhằm mục đích cải cách đời sống người Do Thái, giúp họ hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng phi Do Thái mà họ là một phần, đồng thời không làm mất đi căn cước Do Thái của chính họ. Khẩu hiệu nổi tiếng của họ ở thời điểm đó: “Ở nhà bạn là người Do Thái, ra bên ngoài bạn là người Ba Lan”.

Không giống hội đường truyền thống, tại đây cả nam và nữ được phép cầu nguyện cùng nhau, thánh lễ được thực hiện bằng cùng thứ tiếng, ở Galicia là tiếng Đức, về sau là tiếng Ba Lan. Phụng vụ được thay đổi để thích nghi với nhu cầu của cộng đồng vào thời điểm đó; chẳng hạn, không bao gồm những lời cầu nguyện cổ liên quan đến việc hiến tế các con vật. Đây là hai ví dụ cho thấy người Do Thái ở Galicia được chia thành trường phái khá khác biệt, liên quan đến cách họ thực hành tôn giáo, và cách họ nhận thức vị trí của mình như là người Do Thái sống trong lòng xã hội Ba Lan. Bên truyền thống cố giữ mình khép kín và không chấp nhận thay đổi; bên cấp tiến tìm cách thích nghi với môi trường mới, nhưng cố gắng “hòa nhập chứ không hòa tan”. Bài tiếp theo sẽ tìm cách soi rọi sâu hơn vào hai nhánh này.




[1] Cương vực lãnh thổ “Ba Lan” vào giai đoạn này vô cùng loằng ngoằng. Có thể tìm đọc hai cuốn sách của Norman Davies, một chuyên gia về Ba Lan, là Heart of Europe: The Past in Poland's PresentEurope.
[2] Đọc thêm Eric Hobsbawm, The Age of Revolution: 1789-1848.
[3] Nổi lên vào thế kỷ 19, phong trào này tìm cách tái thiết lập dân tộc Do Thái ở vùng đất Israel, tức Palestine. Đây là phản ứng trước nạn bài Do Thái diễn ra khắp châu Âu cuối thế kỷ 19, nhất là ở nước Nga sa hoàng, nơi tìm cách giải quyết triệt để “vấn đề Do Thái" bằng cách cải đạo 1/3, sát hại 1/3 và trục xuất phần còn lại.
[4] Tiếng bản xứ của người Do Thái Ashkenazi, kết hợp giữa một số phương ngữ Đức trung cổ với tiếng Hebrew và Aramaic, cùng một số yếu tố của ngôn ngữ Slavic. Yiddish là ngôn ngữ nói của mọi người Do Thái ở vùng này. Tiếng Hebrew cổ, hay ngôn ngữ thánh, chỉ được dùng trong cầu nguyện, các văn bản tôn giáo, lưu chú cộng đồng, và trong giới học giả. Chỉ một nhóm nhỏ những người có học vấn mới dùng được tiếng Aramaic, tiếng thánh thứ hai của người Do Thái. Cả ba ngôn ngữ này đều dùng chung bảng ký tự. 

No comments:

Post a Comment