Phần Ba: Những gì còn nguyên vẹn
Những
đống đổ nát mang lại một ấn tượng chóng vánh và bi thảm về một phần quá khứ
sống động. Nhưng nhìn vào đó chưa đủ. Ở Galicia, người ta vẫn tìm thấy nhiều
nơi đã may mắn thoát khỏi sự tàn phá của chiến tranh và được giữ nguyên vẹn cho
đến ngày nay. Trước tiên hãy nhìn vào bản đồ để định vị vùng mà chúng ta xem
xét.
Tấm
bản đồ dưới đây cho thấy vị trí của Galicia vào giữa thế kỷ 19. Đây là một tỉnh
thuộc Đế chế Áo-Hung từ năm 1795 cho tới 1918, thời điểm kết thúc Thế chiến thứ
nhất. Từ thời điểm cuộc Chia cắt đầu tiên năm 1772, đất nước Ba Lan không còn
tồn tại trên bản đồ mà bị chia làm ba mảnh, rơi vào tay của Áo-Hung, Nga và
Phổ. Đến Đại hội Vienna (1815), các đại sứ châu Âu ngồi lại họp bàn tái phân
chia lãnh thổ, phần Ba Lan do Áo sở hữu được đặt tên là Vương quốc Galicia và
Lodomeria, đến năm 1846 thì Cộng hòa Kraków được nhập vào.
Như vậy ta có bản đồ
Galicia giữa thế kỷ 19 như đã thấy. Cũng sau Đại hội Vienna, Vương quốc Lập
hiến Ba Lan (Kongresówka) ra đời, thuộc sự cai trị của Đế chế Nga cho đến hết
Thế chiến thứ nhất[1].
Đây là phần góc trái phía trên bản đồ. Bên dưới ta thấy một mẩu nhỏ, là Cộng
hòa Kraków, sau Đại hội Vienna được hưởng quy chế “thành phố tự do”, do ba ông
lớn cùng quản lý; đến năm 1846, giới quý tộc Ba Lan (szlachta) tổ chức một cuộc
nổi dậy ở Kraków nhằm khôi phục cố quốc nhưng sớm bị Áo đem quân dập tắt, sau
đó người Áo châm ngòi cho nông dân địa phương tiến hành cuộc thảm sát giới quý
tộc và trung lưu, còn gọi là cuộc thảm sát Galicia[2]. Karl Marx ca ngợi cuộc nổi
dậy này rất, nhưng tôi sẽ không đi sâu. Kết quả là thành phố Cộng hòa Kraków bị
sáp nhập tỉnh Galicia thuộc Đế chế Áo-Hung hehe.

Zồi,
tiếp theo ta xem tấm bản đồ Đế chế Áo-Hung năm 1910, tức là cương vực đã tương
đối ổn định trước khi lụi tàn tám năm sau đó. Vùng Galicia gồm hai dân tộc lớn
sinh sống, nửa phía tây nói tiếng Ba Lan, nửa phía đông nói tiếng Ukraine. Hai
thủ phủ, hạt nhân chính của vùng này là Kraków và Lviv (hay Lwów; tiếng Đức là
Lemberg).

Đời
sống Do Thái ở Galicia thay đổi đáng kể vào thế kỷ 19. Nửa đầu thế kỷ chứng
kiến sự lan rộng của Hasidim, phong trào vươn lên chi phối đời sống tín bái của
người Do Thái. Vào nửa sau thế kỷ, người Do Thái được tự do hơn, nhưng cũng gặp
phải nhiều khó khăn về kinh tế và những hình thức mới của chủ nghĩa chống
Xê-mít. Đây là hai nhân tố dẫn đến việc họ di cư ồ ạt khỏi Galicia, phần lớn
sang Mỹ. Đây cũng là lúc thế giới Do Thái phân hóa sâu sắc hơn trước, với sự ra
đời của nhiều phong trào: chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Zion[3] và cải cách tôn giáo. Người
Do Thái đăng cua vào đại học nhiều hơn, cởi mở hơn và đón nhận nhiều hơn phần
văn hóa Ba Lan. Đạo Do Thái chính thống cũng có nhiều thay đổi, trong số đó là
việc xuất hiện hệ thống trường học dành cho nữ. Đến sau Thế chiến thứ nhất, Ba
Lan giành lại độc lập, cái tên Galicia không còn, và người Do Thái ở đây phải
bắt đầu thích nghi với hoàn cảnh mới. Văn hóa Do Thái trước ngưỡng Holocaust
khá đa dạng, với tỉ lệ đông người Do Thái thế tục; song, hình ảnh chung nhất
của nền văn hóa Do Thái ở Galicia trước Thế chiến hai, đó là những hình thức cổ
điển của một đời sống Do Thái truyền thống, nhất là ở mặt tôn giáo.

Trái
với những tấm hình ở các phần trước, hình hội đường này ở thị trấn Łańcut là
minh chứng hiển hiện cho thấy không phải tất thảy di sản Do Thái ở Ba Lan đều
nằm dưới đống hoang tàn. Kiến trúc, lối chạm khắc và cách phân bổ màu sắc làm
tôn vẻ uy nghi, đường bệ của bimah
nằm giữa gian phòng. Bimah, nơi đặt
kinh Torah được trang trí với những hình ảnh biểu tượng trong Kinh thánh; trên
những bức tường bao quanh hội đường là những dòng chữ cầu nguyên, cùng những
những tranh vẽ thú vật, các ký hiệu hoàng đạo và trang trí bằng hoa văn. Lý do
hội đường được trang trí nhiều như vậy, một phần, là vì sách vở vào thời điểm
ấy (thế kỷ 18) đắt đỏ, tín đồ vào hội đường có thể đọc được lời cầu nguyện, đọc
các biểu tượng và ám từ rải rác ở trên tường.
Đây
là kiến trúc hội đường phổ biến của người Do Thái Ashkenazi. Đằng sau bimah ta có thể thấy Aron Hakodesh (hay
Holy Ark, tức hòm thánh hay khám thánh) nơi đặt cuộn kinh Torah khi không dùng
đến. Khám thánh này luôn nằm trên bức tường hướng về phía Jerusalem. Vào thời
trung cổ, khám thánh này được thiết kế giống như hòm thánh mà các bộ lạc Israel
làm ra trong hành trình từ Ai Cập đi về miền đất thánh.
Mặc
dù ngôn ngữ của người Ashkenazi là tiếng Yiddish[4], song ngôn ngữ phụng vụ
trong các hội đường truyền thống luôn là tiếng Hebrew. Người Ashkenazi khi
thiết lập hội đường này có một cách diễn giải đạo Do Thái của riêng họ; chẳng
hạn, nam và nữ không ở cùng chung hội đường, hay nói cách khác, phụ nữ không được
phép đi cùng nam giới vào trong hội đường.

Tương
phản là hình hội đường Tempel ở Kraków thuộc nhánh Do Thái giáo cấp tiến
(Progressive), thành lập vào thập niên 1860. Nhánh cấp tiến này xuất phát từ
trong giới những bác sĩ, giáo sư, luật sư hay trí thức người Do Thái hàng ngày
tiếp xúc với những người ngoài đạo và họ cảm thấy xa lạ với những giới luật
khắt khe của Do thái giáo truyền thống. Nhánh này phát triển nhằm mục đích cải
cách đời sống người Do Thái, giúp họ hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng phi Do Thái
mà họ là một phần, đồng thời không làm mất đi căn cước Do Thái của chính họ.
Khẩu hiệu nổi tiếng của họ ở thời điểm đó: “Ở nhà bạn là người Do Thái, ra bên
ngoài bạn là người Ba Lan”.
Không
giống hội đường truyền thống, tại đây cả nam và nữ được phép cầu nguyện cùng
nhau, thánh lễ được thực hiện bằng cùng thứ tiếng, ở Galicia là tiếng Đức, về
sau là tiếng Ba Lan. Phụng vụ được thay đổi để thích nghi với nhu cầu của cộng
đồng vào thời điểm đó; chẳng hạn, không bao gồm những lời cầu nguyện cổ liên quan
đến việc hiến tế các con vật. Đây là hai ví dụ cho thấy người Do Thái ở Galicia
được chia thành trường phái khá khác biệt, liên quan đến cách họ thực hành tôn
giáo, và cách họ nhận thức vị trí của mình như là người Do Thái sống trong lòng
xã hội Ba Lan. Bên truyền thống cố giữ mình khép kín và không chấp nhận thay
đổi; bên cấp tiến tìm cách thích nghi với môi trường mới, nhưng cố gắng “hòa
nhập chứ không hòa tan”. Bài tiếp theo sẽ tìm cách soi rọi sâu hơn vào
hai nhánh này.
[1] Cương vực lãnh thổ “Ba Lan” vào giai đoạn này vô cùng
loằng ngoằng. Có thể tìm đọc hai cuốn sách của Norman Davies, một chuyên gia về
Ba Lan, là Heart of Europe: The Past in
Poland's Present và Europe.
[2] Đọc thêm Eric Hobsbawm, The Age of Revolution: 1789-1848.
[3] Nổi lên vào thế kỷ 19, phong trào này tìm cách tái
thiết lập dân tộc Do Thái ở vùng đất Israel, tức Palestine. Đây là phản ứng trước
nạn bài Do Thái diễn ra khắp châu Âu cuối thế kỷ 19, nhất là ở nước Nga sa
hoàng, nơi tìm cách giải quyết triệt để “vấn đề Do Thái" bằng cách cải đạo
1/3, sát hại 1/3 và trục xuất phần còn lại.
[4] Tiếng bản xứ của người Do Thái Ashkenazi, kết hợp giữa
một số phương ngữ Đức trung cổ với tiếng Hebrew và Aramaic, cùng một số yếu tố
của ngôn ngữ Slavic. Yiddish là ngôn ngữ nói của mọi người Do Thái ở vùng này.
Tiếng Hebrew cổ, hay ngôn ngữ thánh, chỉ được dùng trong cầu nguyện, các văn bản
tôn giáo, lưu chú cộng đồng, và trong giới học giả. Chỉ một nhóm nhỏ những người
có học vấn mới dùng được tiếng Aramaic, tiếng thánh thứ hai của người Do Thái.
Cả ba ngôn ngữ này đều dùng chung bảng ký tự.
No comments:
Post a Comment