18 Sept 2015

Trách cứ sự vô cảm

Một nhà văn lớn thường ý thức về điều gì? Điều ấy thật khó mà trả lời cho gọn ghẽ với một tác giả có khối lượng trước tác đồ sộ và gặt hái nhiều danh vọng trong nghiệp viết như Heinrich Böll: khôi nguyên giải Nobel văn chương, chủ tịch hội văn bút quốc tế PEN, người phát ngôn cho sự tự do của trí thức và lương tri nước Đức. Nàng Anna xanh xao (Phạm Hải Hồ tuyển chọn và dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học) là lăng kính giúp ta nhìn vào “ý thức nghệ sĩ” ấy một cách thời đoạn. Mười bảy truyện ngắn sắp xếp theo thứ tự thời gian, được tác giả viết từ năm 1949 (thời điểm ông gia nhập Nhóm 47) cho đến 1963, một giai đoạn trọng yếu trong việc hàn gắn vết thương và định danh hoàn cảnh xã hội thời hậu chiến, cụ thể là Tây Đức.

Khác với Günter Grass, một nhà văn lớn khác cũng thuộc Nhóm 47 mới đây gây tai tiếng vì giấu quá khứ quốc xã, Heinrich Böll không có nhiều điều phải che đậy vì ông sinh ra trong một gia đình Công giáo có xác tín sâu đậm, vốn không dung hòa với chủ nghĩa của Hitler. Năm 1939, ông buộc phải đăng lính vào đội quân Wehrmacht. Chiến tranh qua đi, người lính trở về là lẽ thường. Nhưng trong hiện thực chắt đọng và đau đớn mà Böll lột tả, những kẻ thua cuộc không còn nhà để trở về, họ bị chuyển dịch cả về mặt vật lý lẫn tâm tưởng. Những cảnh hồi tưởng trong truyện ngắn của ông không chỉ tô đậm dòng chảy đay nghiến của thời gian mà còn cả cái bóng mờ của quá khứ gieo lên hiện tại. Đằng sau đó là ý nghĩa đạo đức của sự hủy tàn, vào thời mà mọi thứ đều có thể được đổi chác, kể cả căn tính con người.

Truyện ngắn “Đêm thánh vô cùng” kể về một bà mợ luôn mong muốn một cây thông Noel truyền thống với đầy đủ nghi thức và sự trang hoàng, nhưng kể từ Giáng Sinh năm 1939, thói quen này bị gián đoạn (chiến tranh chỉ được vô tình nhắc đến nhưng ta hiểu rằng đến cả cây thông Noel cũng trở thành nạn nhân!). Sang thời bình, gia đình bà phải vờ làm nghi lễ ấy mỗi ngày để tránh cho bà lên cơn động kinh. Dần dà, con cháu trong nhà phát ngấy tới độ phải thuê diễn viên đóng thế cho những buổi lễ – hiện tượng được người kể chuyện mô tả là suy đồi và “báo hiệu sự mất thanh danh của cả một dòng họ”. Việc chấm dứt một truyền thống và sự suy tàn của thời đại được kể lại bình thản bằng cách mô tả sự trống rỗng của các đồ vật gắn trên cây thông Noel (những thằng lùn bằng thủy tinh, một thiên thần má đỏ đều đặn mở miệng “hòa bình, hòa bình” gắn vào một bộ máy phát âm).

Cái nhìn khoét sâu vào sự tương tác đời thường giữa người với người, cùng với giọng kể lững thững, ấm áp nhưng không ủy mị, giúp tiết lộ cho người đọc một điều: sự khủng khiếp của đời sống. Heinrich Böll ý thức được điều gì ở cuộc sống hậu chiến? Ông nhìn thấy một sự rệu rã; chính vì rệu rã mà đôi khi con người ta phải ban phát lòng trung thực; và xen kẽ giữa những phẩm hạnh xa xỉ ấy là tình yêu, vừa thật nhỏ bé, vừa không đo đếm được.

Thuộc thế hệ bại trận và khốn khó, Heinrich Böll mô tả xuất sắc về cái đói. Trong “Mùi vị bánh mì”, tác giả dựng lên khung cảnh tương phản của một kẻ đói ăn một chiếc bánh mì: cái mềm của ruột bánh và vẻ sắc nhọn của con dao trong hộc tủ, hay hình ảnh người nữ tu trộn xà lách trong một cái thau tráng men và vài lá rớt ra ngoài. Hiện thực và ước nguyện cũng chỉ bất khả chung đụng đến thế là cùng. Ngay cả việc đạt được ý nguyện – tức việc cắn bánh mì – cũng chỉ là sự thỏa mãn nửa vời “như niềm âu yếm khô khan" (tr. 61).

Những câu chuyện chân thực và lối kể chuyện thản nhiên giống như một cách trách cứ sự vô cảm. Nỗi buồn, nỗi cô đơn và trống trải trở nên lớn lao và phổ quát như có thể xảy đến với bất kỳ ai. Trong “Thiên đàng đã mất”, anh lính trở về nhà người yêu cũ chỉ cần nghĩ đến một kỷ niệm là sẽ kéo theo vô vàn hình ảnh khác, và việc anh tự cắt ngang dòng suy tưởng ấy đòi hỏi một lòng cản đảm – một phẩm hạnh buộc phải gắn rất gần với hiện thực thô bạo. “Anh ta biết ngoài mùa thu ra còn có chiến tranh” (tr. 24), nhưng đau đớn thay, ngay cả khi chiến tranh kết thúc, mùa thu vẫn chưa đến với những người lính được trả về quê hương và cố gắng hòa nhập trong vô vọng.

Sách trong tháng

Thác loạn ở Las Vegas, Hunter S. Thompson
Phủ Quỳ dịch, NXB Trẻ, 364 trang, 120.000 đồng

Nhà báo Duke (hiện thân của tác giả) và luật sư Dr. Gonzo đi tác nghiệp ở một giải đua xe nhưng thực chất là bắt đầu một hành trình “xuống cấp thành lũ quái vật ngu xuẩn”. Cốp xe ních đầy ma túy và thuốc kích thích, họ đi tìm những gì là đứng đắn, là thực chất và tử tế trong giấc mơ Mỹ (“tất nhiên là chỉ dành cho những ai có chất”). Một trải nghiệm tuy đau đớn nhưng là cái kết đúng nghĩa cho thập niên sáu mươi của nước Mỹ.

Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra, Oriana Fallaci
Lê Thuý Hiền dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học, 152 trang, 48.000 đồng


Nữ nhà báo, nhà viết tiểu luận người Ý Oriana Fallaci là một phụ nữ vượt ra ngoài những quy chuẩn. Bà đi ngang dọc trái đất, ghi chép tại nhiều điểm nóng trong lịch sử, từ chiến tranh Việt Nam, Hy Lạp thời độc tài Papadópoulos, Iran thời Khomeini cho đến vụ khủng bố 11/9. Kích động, quyết liệt và đôi khi tàn nhẫn, cuốn tiểu thuyết là lời tâm sự của một người mẹ dành cho đứa con trong bụng, về tình yêu và sự nhem nhuốc, về các giá trị và sự phù phiếm.

No comments:

Post a Comment