25 Aug 2015

Những mảng màu đối ngẫu

Bão là cuốn truyện tôi ưa nhất trong mấy tháng trở lại đây. J. M. G. Le Clézio viết về những con người ở đâu đâu; các nhân vật sống ở một đảo nào đó ở Hàn Quốc; những đứa trẻ xuất thân ở một thành phố ở châu Phi tôi quên béng tên. Xa lạ mà quen thuộc. Họ tương đối kiệm lời. Họ sống một cuộc sống như bất kỳ ai. Nhưng cách Clézio mô tả khiến ta lưu tâm đến một phần công việc vốn dĩ nhàm chán với tất thảy mọi người, nhàm chán với cả các nhân vật hư cấu: việc “move on” với cuộc sống.
Tôi quan tâm đến một điểm thường bị lãng quên, đấy là những “màu sắc”. Sự hối hả đôi khi khiến ta không còn lưu tâm đến màu sắc nữa, và dần ta trôi tuột cảm giác về màu ở những thứ nó không còn mang ý nghĩa biểu hiện. Một bản nhạc, một tiểu thuyết, một bài thơ, một sự lặng im, một sự không làm gì cả... có màu không? Hiểu một cách trừu tượng, màu chính là những “cái bóng”, là shade (ai đó dịch là sắc thái thì phải). Anne Carson có một bài thơ nói về những bóng ở quanh ta. Bóng rừng, bóng hồ, bóng quán café, bóng con bò, bóng một xe kem, bóng những đám mây rong ruổi ngoài xa, bóng ở lõi một quả táo, bóng trong một câu chuyện cười, bóng ở những vết sẹo... Song, để tạo thành một cảnh ngộ, ta cần tập hợp của nhiều bóng. Đấy là cách tôi nghĩ về bản chất việc viết của Clézio, ông biết tạo ra một phổ màu từ những cái bóng.

Những mảng màu đối ngẫu
Bão của J. M. G. Le Clézio (nhóm dịch giả, Nhã Nam & NXB Văn Học) gồm hai truyện vừa đặt kề nhau giống như hai mảng màu đối chọi nhưng tương hỗ. Ở Bão là gam màu thâm trầm mờ đục của di ức, của buổi ngày thê lương (“Bầu trời xám xịt, màu của hối hận”), đồng thời là gam màu xoa dịu: bóng đêm từ biển ra hòa trộn vào sự sống ấm áp (tr. 95). Còn ở Người đàn bà không danh tính, ta bắt gặp màu nóng bập bùng của đêm (“Tôi từng mơ thấy mình phóng hỏa”), màu của sự tan chảy, của niềm vui man dại lẫn trong “những tiếng chít chít tuyệt vọng”, của cảm giác buông bỏ lẫn trong cái nhìn điêu đứng.
Truyện Bão được kể thông qua hai nhân vật. Kyo Philip, một nhà báo có mặt trong chiến tranh Việt Nam từng bị kết án tù vì chứng kiến một tội ác mà không làm gì để ngăn cản, trở lại thăm đảo Udo sau ba mươi năm để tìm lại hình bóng người tình cũ. Bên cạnh ông trong những buổi đi câu cá là June, cô bé mười ba tuổi nhưng mang tâm hồn của một thủy thần. Vết thương trong tâm hồn chai sạn của Kyo tìm đến giọt nước mắt của cô bé để những năm tháng được dung thứ và cuốn đi.
Ở một nhát cắt thẳng đứng, ta thấy tồn tại hai trạng thái “một mình” nhưng không “cô độc”: June ngắm ngài Kyo, còn tác giả “ngắm” ông già và cô bé trò chuyện. Bức tranh đẹp rúng động đến lạ thường. Ngoại tại bất an (gió lớn và biển động) nhưng thẳm sâu tĩnh lặng (“Đám cá sẽ ở sâu dưới nước, nấp trong hang của chúng”). Tính thơ và tính nhạc vừa đến một cách tự nhiên bằng nhạy cảm “bắt vần” hình ảnh kỳ tài của nhà văn, vừa đến nhờ nỗ lực lựa chọn gam màu với những nhấn nhá có chủ ý, chẳng hạn: “Khi ngắm biển trông ông buồn lắm. Cứ như thể màu của biển nhập vào đôi mắt ông” (tr. 47). Những cặp câu điều hòa từng đoạn, giống như cách hai truyện vừa (novella) điều hòa một cấu trúc tổng thể.
Truyện vừa thứ hai kể về những đoạn đời xô lệch của Rachel, một thiếu nữ sinh trưởng ở Takoradi, Ghana. Cô bị mẹ bỏ rơi từ lúc mới sinh ra, sống trong một gia đình không thừa nhận cùng với bà mẹ kế luôn hằn học, rồi lang bạt trong một xã hội cũng không thừa nhận nốt (một cô gái gốc Phi di cư sang Pháp). Cũng giống như Kyo trong Bão, tâm trí Rachel hay bị cuốn về những năm tháng bình lặng bên biển, quãng thời gian cô còn ở Takoradi. Ở điểm cao trào của truyện, Rachel đem đốt số giấy tờ tùy thân còn sót lại (trong đó có giấy chứng nhận cô là con của một bà mẹ vô danh) để được mang một danh tính khác, để thoát khỏi thân phận “đứa con của quỷ”: “đứa con sinh ra từ cái ác, tôi không biết đến tình yêu, tôi chỉ biết có thù hận” (tr. 185). Hành động đốt dĩ nhiên chỉ mang tính biểu tượng. Ảo giác cô nhìn thấy là một bãi biển rộng và người mẹ mang cô trong bụng, ảo thanh cô nghe thấy là tiếng sóng. Cô đau đớn và bỏng rát bởi chính sự cháy trong cơ thể mình.
Gam màu nóng của lửa trong truyện thứ hai đối nghịch với gam màu lạnh của biển trong Bão. Những người đàn bà của biển trên đảo Udo, trong đó có mẹ của June, kiếm sống bằng nghề lặn mò bào ngư. Mỗi khi ngoi lên khỏi mặt nước, họ cất lên một tiếng kêu rất riêng biệt, mỗi người mỗi khác, giống như tiếng cá heo. Họ thông hiểu nhau, thông hiểu khoảng trống của chính mình trong một chiều không gian khác: không gian của loài cá heo, của mối hòa quyện giữa bầu trời và biển cả. Tiếng kêu bật ra tựa như một tiếng thở hắt vì lẽ được sống, được cảm nhận trọn vẹn cái khoảnh khắc khi trời biển bao trọn cơ thể và tâm can mình.
Trong bảng màu của Le Clézio, biển ồn ào mà lắng dịu, hoàng hôn diêm dúa mà hợp lẽ, ta ngửi thấy mùi của sự cháy, nhìn thấy hình dung của sóng, đêm, gió và cát. Phổ màu lạnh mang đến cảm giác một mình nhưng không cô độc. Phổ màu nóng tựa như thiêu đốt nhưng không đi kèm với cái ác; nó xóa nhòa cái ác đang hiện hữu. Tính thơ và màu sắc trong truyện khiến ta liên tưởng đến những bảng màu đầy chủ ý trong phim của Alexander Sokurov; nhưng trái với Faust kể về con người bán linh hồn cho quỷ dữ, gam màu trong Bão gợi lên sự bất tuân cái ác, niềm hy vọng vào phép màu và vào sự chuyển vần của tự nhiên theo một lẽ không thể tự nhiên hơn: đến sau cơn bão sẽ luôn là sự bình yên và tươi mới.

3 comments:

  1. Tân thấy cuốn Sau mưa của Trevor có đáng đọc không?

    ReplyDelete
    Replies
    1. Mình chưa đọc cuốn đấy. Có thấy mà không mua, vì nhà Phụ nữ dàn trang xấu quá :3

      Delete
    2. cuốn ấy cực hay :)

      Delete