25 May 2015

Si mê sự vô định

Một người có thể có bao nhiêu quá khứ? Và nếu nhiều hơn một thì quá khứ nào là cốt yếu? Một câu hỏi tưởng chừng đuểnh đoảng và vô hại nhưng đã được Patrick Modiano trở đi trở lại trong Phố những cửa hiệu u tối (Dương Tường dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học). Cũng như các tác phẩm khác làm nên dấu ấn của Modiano, cuốn tiểu thuyết mỏng lôi cuốn người đọc bằng giọng văn lãnh đạm, dửng dưng nhưng đồng thời đay nghiến, giày vò và với một kết thúc vắng câu trả lời. Nhà văn mở ra đề tài “đi tìm thân thế” (bản dịch tiếng Anh của tác phẩm có tên Missing Person – Người thất lạc) bằng một dạng nhân vật chính không thể quen thuộc hơn: một thám tử mất trí nhớ, tìm lại cuộc đời bị ngắt quãng mười lăm năm trước.

Paris của năm 1965, những căn hộ thấp trần và ngộp thở, những con người đầy hoài niệm về một thời quảng giao sôi nổi và xa cách với thực tại đến nỗi ta cảm thấy họ không ngừng thiếu ôxy, kể cả nhân vật chính. Guy Roland (tên mới sau khi anh mất trí nhớ) muốn có một lý do tồn tại bằng cách tìm lại thân thế mình; cái lý ấy, chính anh cũng không thể nắm bắt rõ, nhưng hơi thở của cảnh xưa người cũ, cái mùi từ những thứ đã mất làm cho anh si mê. Như màu khói phảng phất khắp tác phẩm, nhân vật của chúng ta si mê sự vô định. Si mê, bởi họ biết sự vô định ấy sẽ quy hồi.

Ra mắt năm 1978 và mang lại cho tác giả giải Goncourt cùng năm, tuy không câu nệ nhưng cuốn tiểu thuyết vẫn có nhiều chi tiết lạ lẫm với độc giả thời nay. Giống như khi ta xem lại bộ phim của Truffaut về anh chàng Antoine Doinel (Stolen Kisses), cũng Paris thập niên 1960 với cách chuyển thư bằng ống hơi ta chỉ còn thấy trong phim ảnh cũ, vẫn những thám tử tư với công cụ tìm manh mối chủ yếu là nhờ cậy bạn bè ở sở cảnh sát và cách giữ hồ sơ hiệu quả là dùng những “phích” (fiche) thông tin.

Ở Phố những cửa hiệu u tối, ta gặp rất nhiều “phích” như thế, những đầu mối đưa dẫn Guy Roland đến các nhân chứng. Họ sẽ trao cho anh những bức hình cũ, gợi lên trong ký ức anh từng dấu hiệu nhỏ nhất, chẳng hạn một cô bé trong hình đang khóc vì cô muốn đi chơi biển. Những phích thông tin gợi lên các hình ảnh, và những bức hình gợi lên các âm tiết cảm xúc: “những âm tiết này đánh thức dậy một cái gì đó trong tôi, một cái gì thoảng qua như ánh trăng chiếu lên một đồ vật” (tr. 69). Đấy là cách mà cuộc truy vấn của Guy Roland vận hành, và là cách để tiết lộ nhiều hơn một quá khứ. Một gã cao kều tại một nhà thờ Nga ở Paris dẫn đến số phận một gia đình di trú sang Mỹ, rồi cái ngách hẹp ấy của cuộc đời lại dẫn đến nhóm bạn cũ của Roland. Các hình chiếu của quá khứ “tập thể” không tịnh tiến và bình đẳng, mà chúng chồng lấn lên nhau; nói một cách hình tượng, giống như nhan đề một cuốn tự truyện của Günter Grass, Peeling the Onion (Bóc vỏ củ hành), mức độ cay mắt phụ thuộc vào mức độ để tâm của người hành xử và tính “cá nhân” của quá khứ ấy.

Những câu chuyện đan cài đưa ta trở lại câu hỏi ban đầu, vậy quá khứ nào là cốt yếu? Hẳn đó là thứ làm dâng lên trong Roland một nỗi sợ mơ hồ. Anh lạnh lùng và bình thản khi hỏi những manh mối “vòng ngoài” ở nhà thờ hay trong một quán bar. Nhưng anh lại xa cách và đề phòng những người nắm được bằng chứng của sự chắc chắn, khi họ dựa vào thành đá của cây cầu (“Tôi không thể bắt chước y vì sợ bị chóng mặt”), ở bên ke, dưới bến tàu hay trong căn phòng ngột ngạt. Họ có trong tay thứ vũ khí có thể gây sát thương cho trí nhớ vá víu của Roland: những bức hình, và chúng luôn được đặt trong một không gian kín (hộp lớn màu đỏ, hộp đựng bánh mứt kẹo, phong bì...).

Si mê sự bất định, nhưng bất an trước những bằng chứng lành lặn của quá khứ, đó là bởi các nhân vật luôn muốn giả định một phiên bản khác của họ, nhòe mờ nhất có thể, với con người họ-muốn-mình-là. Họ sợ rằng các chứng nhân của giai đoạn mơ hồ ấy sẽ đem đến một phiên bản hữu thực nhưng không có tác dụng an ủi trong hiện tại. Dẫu sao, hành động kể lại, và gián tiếp kích động những xung đột ấy, là một khoái cảm khó cưỡng: bằng việc chắp ghép quá khứ của một ai đó tựa hồ là chính họ (“Có đúng là đời tôi không? Hay là đời một người khác mà tôi đã lẻn vào?”), các nhân vật không lúc nào ngừng thiếu ôxy.

No comments:

Post a Comment