27 May 2015

Lịch sử là tiếng thở dài

Quá khứ và hiện tại, điều gì là đáng bận tâm? Câu hỏi ấy trở đi trở lại đầy ám ảnh trong cuốn tiểu thuyết có nhan đề xấc xược của J.M. Coetzee, Đợi bọn mọi (Bách Việt & NXB Văn Học, Crimson Mai & Phương Văn dịch). Ta thấy ở đó cuộc đấu tranh dai dẳng giữa hai luồng suy nghĩ, ở phông nền là sự uể oải, dửng dưng đến vô tội của một thị trấn ba nghìn dân nằm bên rìa dòng chảy lịch sử nhưng chứng kiến không ít sự xúc xiểm, mỉa mai đối với chính lịch sử ấy.

Nhân vật chính, vị Quan tòa, vốn là công chức phụng sự cho chính phủ ở một thị trấn tiền đồn xa xôi của “Đế chế”, chờ đến ngày về hưu. Đối lập với ông về tính cách là Đại tá Joll, được chính phủ cử đến để quét sạch bọn mọi, một đám người không ai biết là ai, chỉ biết chúng chuyên “lẻn đến từ đằng sau và thọc một dao vào lưng bạn”. Nếu như Đại tá cho rằng con người mới của Đế chế phải tin tưởng vào sự khởi đầu tươi mới và một trang sử sạch sẽ, thì ngài Quan tòa lại vật lộn với câu chuyện của quá khứ vì ông cho rằng quá khứ ấy là đáng bận tâm. Vấn đề là sự lưu tâm ấy đáng được ông đánh đổi đến mức nào?

Đề tài về nỗi căm phẫn và bi kịch ở những vùng đất xa xôi, hẻo lánh làm ta nhớ đến hai bộ phim lọt vào vòng chung khảo giải Oscar phim tiếng nước ngoài hay nhất năm 2015. Ở Timbuktu, người xem chứng kiến một thành phố giữa hoang mạc cát bị quẫy nhiễu và xáo động khi các chiến binh Hồi giáo djihad đặt chân đến. Hay ở Corn Island là câu chuyện về người nông dân gầy dựng một cánh đồng ngô trên hòn đảo trơ trọi nằm giữa dòng nước phân chia biên giới Georgia và Abkhazia, nơi cuộc sống bình dị liên tục bị ngắt quãng bởi tiếng súng chát chúa.

Tuy ra đời cách đây 35 năm nhưng cuốn tiểu thuyết của Coetzee (bản dịch tiếng Việt ra mắt quý 3.2014) đến nay vẫn không mất đi tính chất vấn. Thái độ bài ngoại, nỗi sợ các giá trị ngoại lai, cùng với định kiến và quy tắc ứng xử được những kẻ cai trị thiết định, đã quy giản thế giới bên ngoài thành thế giới cực đoan và man rợ. Thái độ “chống-kẻ khác” dần trở thành sự lên án mơ hồ. “Thời nào cũng có một giai đoạn người ta bị kích động bởi chứng sợ bọn mọi”, và ngài Quan tòa nhận ra nỗi bất an đó là “hệ quả của của cuộc sống quá mức an nhàn” (tr. 25).

Ông biết rõ các tù binh mà Đại tá Joll bắt về chỉ là dân đánh cá, các thổ dân sống ven sông. Trong khi Đại tá và đội quân của mình quyết tâm truy tìm bọn mọi, thì ngài Quan tòa chỉ lưu tâm đến công việc đào bới, khai quật dấu vết của những khung nhà cũ, các mẩu gỗ có vẽ ký tự lạ của thổ dân, những thứ đã bị cát phủ lên từ bao đời. Nhưng ông hạnh phúc vì được ở lại một mình trong thế giới mà ông cảm thấy hiểu rõ.

Đó là lý do khiến ông khao khát được quay về với khung cảnh cũ khi bị hàm oan và bắt giam trong lần liên hệ với những kẻ bị xem là bọn mọi. Ông không sợ chết, chỉ không chịu đựng được “nỗi nhục nhã khi phải chết một cách ngớ ngẩn và ngu ngốc”. Ông có trong tay chìa khóa của buồng giam, để lúc buồn heo hắt ông mở cửa lẻn ra ngoài, ngắm cho chán chê rồi lại vào sau song sắt. Nỗi hoài thương quá khứ liệu có mấy ai hiểu cho?

Giữa những hình ảnh hỗn loạn trong giấc mơ nơi ngục tù, ngài Quan tòa chỉ mải miết đi tìm hình ảnh về một cô gái quỳ gối quay lưng lại, trước lâu đài cát vừa mới đắp. Ông bắt gặp cô trong đám tù binh mọi bị bỏ lại và đem về ở với mình, nhưng ông không thể tìm thấy gì bên trong người phụ nữ ấy mà chỉ thấy sự trống rỗng trong đôi mắt và sự trống rỗng bao phủ khắp người cô. Đó là sự thật trớ trêu, vì ở một lát cắt phù du nhưng chính đáng nào đó của lịch sử, ông vẫn đứng cùng một bên với Đại tá, và cả hai đều thuộc về dòng chảy cố hữu của Đế chế. Sẽ là một lầm lẫn khi tin rằng ta có thể “đốt cháy, xé nát hoặc đột nhập vào thể xác bí ẩn của kẻ khác” (tr. 96).

Tình yêu giữa vị Quan tòa và cô gái mọi không để lại dấu ấn nào, kể cả khi được đẩy cao bằng sự rồ dại lẫn những ý muốn khác thường của ông. Phải chăng ở độ tuổi ấy, sự ngu ngốc của đàn ông là vô bờ bến (như nhân vật thú nhận) hay họ chỉ đang khao khát ngu ngốc trở lại để lẩn tránh thực tại (như một sự thật khó cưỡng)? Người đọc sẽ nhiều lần bắt gặp cảnh nhân vật bị mất phương hướng về không - thời gian, “như một người kể chuyện bất thần quên mất mạch truyện”.

Trong Đợi bọn mọi cũng như Timbuktu, cát là chứng nhân cho sự trỗi dậy và suy tàn, cho sự tồn tại được xác định bằng những tai ương. Cát chôn vùi những thành tựu, nhưng cũng lưu dấu các vết tích. Quan tòa và Đại tá Joll là hai mặt tương phản của nền cai trị đế quốc. Một bên muốn sống ngoài dòng lịch sử mà Đế chế áp đặt, muốn lưu giữ chứng tích về một cuộc sống định cư. Một bên xuất hiện để vùi lấp và chà đạp như một cơn bão cát. Nhưng đằng sau sự tương phản, ta sẽ thấy một sự nối tiếp: sẽ chẳng có gì xảy ra, và sẽ chẳng có ai hứng thú với lịch sử của thị trấn heo hút ấy nếu như Đại tá không xuất hiện cùng những cơn bão cát. Lịch sử hậu thực dân là một tiếng thở dài, và J.M. Coetzee lắng nghe nó bằng đôi tai đầy cảm thông.

No comments:

Post a Comment