21 May 2015

Holocaust và người Do Thái (4)

Hình dưới là mặt tiền một hội đường bỏ hoang ở Dąbrowa Tarnowska [1]. Khối kiến trúc xuất hiện từ thế kỷ 19, nằm trên trục đường chính và cách trung tâm thị trấn không quá một trăm mét, minh họa cho tầm vóc, căn cước và sự hiện diện một thời hưng thịnh của người Do Thái ở Galicia. Giờ đây, ta chỉ còn thấy những tòa nhà bỏ hoang, mặt tiền nham nhở trầy trật vữa, bao quanh là hàng rào tôn, những lưới mắt cáo, cây bờ cỏ bụi. Chúng chìm trong sự lãng quên. Ở bất cứ đâu, những hình ảnh như thế này không quá xa lạ. Bỏ qua kiến trúc, ta có thể hình dung ra khung cảnh này ngay ở Việt Nam; bên trái có cột đèn đường, bên phải có mấy căn nhà cấp bốn, ngoài khung hình có thể có mấy con chó chạy rong cạnh một bãi ve chai lộ thiên.




Để hình dung cụ thể về sự lãng quên,hãy dành một phút cho số liệu. Trước Thế chiến thứ hai, người Do Thái hiện diện đông đảo ở Ba Lan. Họ chiếm mười phần trăm dân số – mật độ này có thể lên tới 30% ở những thành phố lớn như Warsaw hay Lwów, 25% như Kraków, hoặc hơn 50% ở các thị trấn giao thương nhỏ hơn. Trong cuộc chiến, 90% người Do Thái ở nước này bị sát hại. Nhưng có lẽ bằng chứng xác thực nhất về quy mô dân số và độ phủ của cộng đồng này trước chiến tranh là con số ước tính khoảng 1.200 nghĩa trang Do Thái ở Ba Lan (so với khoảng 500 ở Czech và 40 ở Anh). Song, quá khứ ấy chỉcòn rất ít sự hiện diện mang tính vật lý. Sự thật là chính người Do Thái ngày nay cũng hiểu biết mập mờ về di sản văn hóa của họ ở nước này, bởi hai lý do. Một nhẽ, cái sự hiểu ấy, cái việc khám phá, truyền đạt ấy bị phủ bóng bởi kết cục của câu chuyện bi thảm và bất khả thấu hiểu mang tên Holocaust. Và nhẽ thứ hai, cũng quan trọng không kém, là người Di Thái xuất thân ở Ba Lan khi di cư, dù sang Mỹ hay Israel, dù trước chiến tranh hay với tư cách người sống sót hậu-Holocaust, đều luôn cư xử với quá khứ như cách vẫn thường thấy ở những người tị nạn: mang vết sẹo những ký ức không hề tốt đẹp (nghèo đói, bị xua đuổi, sợ hãi), họ tìm cách gạt quá khứ ấy đằng sau và đơn giản là tạo dựng những cuộc đời mới. Những làn sóng tị nạn luôn là các vết tích bi thương trong lịch sử: người Do Thái tị nạn ở những nước Ki-tô giáo sau khi bị trục xuất ở Tây Ban Nha năm 1492; hay dưới thời Mary Tudor, 23.000 người Anh đạo Tin Lành chạy sang Hà Lan lánh nạn; hay năm 1685, việc hủy bỏ sắc lệnh Nantes khiến 2 triệu người Tin Lành Huguenot ở Pháp phải bỏ xứ – đây cũng là xuất xứ của từ réfugié.

Khi bắt gặp hình ảnh những tòa nhàbỏ hoang như thế này, trong thoáng chốc ta hình dung ra sự lãng quên, và sau thoáng chốc, ta nghiệm ra đằng sau đó, ở chân trời phía sau tòa nhà, hẳn có những ai đó đang bắt đầu một cuộc đời mới.


Tấm hình trên chụp nghĩa địa hoang phế ở làng Czarny Dunajec. Trong mắt người Do Thái, Ba Lan thời Holocaust như một nghĩa trang khổng lồ. Đứng giữa khung cảnh bức tranh, thử hình dung một người Do Thái hẵng còn chưa bị trục xuất, phát vãng. Nỗi u uất và buồn thường của những đọi nắng rọi qua những tán cây trơ trụi, trong một ngày mùa đông tuyết trắng xóa. ‘Deportation’, trong hệ thống từ vựng Holocaust, chỉ việc tập hợp người Do Thái, xua họ lên tàu và đưa đến trại tập trung. Nhưng bức hình này bao hàm ý nghĩa chung nhất của mọi chuyến deport. Tôi nghĩ đến phim Crosswind (2014) của đạo diễn Estonia Martti Helde, lấy bối cảnh năm 1941 khi Liên Xô ra lệnh deport 40.000 người Estonia, Latvia và Lithuania đi Siberia, một hình thức ‘ethnic cleansing’ [2]. Người mẹ bồng theo đứa con, sau những tháng ngày thiếu đói và lao động khổ sai khắc nghiệt, đứa con ua đời, người mẹ đứng giữa khung cảnh này, nghĩ về thân phận mình như “những kẻ tủi nhục”, the dispossessed, bị truất hữu mọi thứ có trong tay, kể cả linh hồn. Chúa nghĩ gì khi đặt ta ở đó?

Dưới đây là hình hai mảnh một bia mộ (matzevah) vỡ đôi, được dùng làm thềm cửa một ngôi nhà tại làng Wielkie Oczy gần biên giới Ukraine (tên làng này trong tiếng Ukraine nghĩa là Big Eyes, không liên quan đến bộ phim cùng tên của Tim Burton có em Amy Adams). Tôi đặc biệt thích bố cục màu sắc của tấm hình. Khung cửa gỗ màu nâu, cánh cửa hé mở để lộ hoa văn những viên gạch trên nền nhà. Đó có thể là một hộ khá giả, hoặc khiêm tốn, nhưng vấn đề là họ lấy hai mảnh bia mộ làm bậc thềm. Bên tay phải, lún phún vài cọng cây dại màu xanh. 



Thời Nazi chiếm đóng, hầu hết nghĩa trang Do Thái bị phá hủy, những bia mộ được dùng làm vật liệu xây dựng [Có thể xem phim Aftermath của Pasikowski], dẫn đến tình trạng ta thấy ở Płaszów chỉ một bia mộ duy nhất (Xem Phần I). Đồng thời, không ít bia mộ bị dân địa phương đánh cắp. Khi nhiếp ảnh gia Chris Schwartz đến ngôi làng này, một nông dân địa phương chỉ cho ông xem tấm bia bị rạn nứt như ta thấy ở trên. Bố vợ ông, hồi xưa, đã ‘tháu' nó từ một nghĩa trang ở trong vùng, dùng làm bậc cửa, nay người nông dân cảm thấy tội lỗi và muốn trả nó lại về chỗ cũ. Khi ông ta lật hai tấm bia lên, trên mặt đất vẫn còn hằn in những dòng chữ trên bia. Và chính tại đây Chris Schwartz nảy ra suy nghĩ mở một bảo tàng Do Thái Galicia và một cuộc triển lãm thường trực có tên Traces of Memory (Những dấu vết của ký ức). Những dấu vết như mezuzah trên cánh cửa hay matzevah dùng làm thềm cửa, chúng rất dễ dàng bị mất dấu chỉ cần một ai đó không để tâm.

Trên mặt bia có một bài thơ ai điếu, tưởng niệm một người ngoan đạo và được kính trọng có tên Menahem Shimshon ben Aryeh Leib, song không đề tháng ngày. Ta không biết là liệu đến nay người nông dân đã chuyển trả tấm bia về chỗ cũ hay chưa, nhưng câu chuyện gợi lên suy nghĩ thú vị: sự thay đổi về nhận thức có thể đến qua một thế hệ. Người đàn ông này muốn bày tỏ sự tôn kính với người Do Thái mà bia mộ này đứng tên, sau khi bố vợ ông ngày xưa đã dỡ bỏ đầy bất kính.

Qua sự thay đổi nhận thức này, không thể không nhắc đến môi trường đã làm cho ngành nghiên cứu Do Thái ở Ba Lan nở rộ. Nếu tôi nhớ không sót, có khoảng 26 khoa hoặc cơ sở thuộc trường đại học ở nước này có ngành nghiên cứu về Do Thái (Jewish studies/études juives, études judaïques; tức là không kể Holocaust studies), và đáng ngạc nhiên, hầu hết là cơ sở nhà nước hoặc được nhà nước tài trợ. Sự phát triển của ngành này bắt đầu từ dấu mốc 1989. Quay lại một chút về lịch sử, từ cuộc đấu tranh của Công đoàn Đoàn kết do Lech Wałęsa [3] dẫn dắt, chính quyền Cộng sản ở Ba Lan chấp nhận ngồi vào Hội nghị Bàn tròn và kết quả, Ba Lan là quốc gia đầu tiên ở Đông Âu thay đổi thể chế. Đây là bước ngoặt chấn động làm rung chuyển cả khối Cộng sản, khi mà phản ứng của Liên Xô vẫn chưa thể đoán trước, bức tường Berlin vẫn đứng vững, nhà cộng sản kỳ cựu Gustav Husák vẫn ở trong Cung điện Prague, Hungary vẫn chưa có gì rục rịch, thì Ba Lan chính là con tàu phá băng. [Những ai muốn biết về đời sống của du học sinh Việt Nam ở Ba Lan vào giai đoạn này có thể đọc Tuyết hoang. Vào lúc Hội nghị, đảng ủy sứ quán truyền đạt nghị quyết cho du học sinh là phải giữ vững lập trường và niềm tin vào đảng bạn. Giới sinh viên mông lung, nhưng đó cũng là thời khắc có một không hai để làm giàu. Khi Ba Lan vừa có chính quyền mới, đất nước mở cửa, linh kiện máy tính từ các nước khác nhập vào ồ ạt, nhân vật Nguyên đem buôn những chiếc máy tính 386 lắp ráp ở Ba Lan sang Liên Xô, lãi 50%, và nhận trả bằng vàng thay vì đô la, rồi buôn lậu vàng ngược về Ba Lan bằng thẻ đỏ có quyền miễn trừ ngoại giao, lãi 50% nữa, tức là cứ sau một lần quay vòng vốn thì giàu gấp đôi.]

Sau khi Ba Lan thay đổi thể chế, quan niệm về dân tộc tính và cách nhìn với người Do Thái cũng dần biến chuyển theo hướng tích cực. Văn hóa Ki-tô giáo phương Tây là một khối cố kết phức tạp nhưng cũng đầy xung khắc, với những phân rẽ, lãng quên, bỏ mặc, mâu thuẫn nội tại. Người Do Thái sống ở bên trong đó, tạo nên một lương thức riêng, cái biến ngã (alter ego), một đối tượng, một cái Khác của nền văn hoá Ki-tô giáo [4]. Năm 1989 là dấu mốc vì trước đó, giai đoạn hậu 1945, chính quyền Ba Lan mang một cách nhìn hẹp về dân tộc tính; Ba Lan tính (Polish) được hiểu là Công giáo (Catholic). Sau giai đoạn này, khái niệm Ba Lan tính được mở rộng hơn, đa dạng hơn, vì thế có cái nhìn thiện cảm, khoan hòa [5], dễ tiếp nhận và dễ hấp thụ hơn với người Do Thái (Jewishness). Đây là thái độ từng có trong lịch sử Ba Lan thời tiền-Chia cắt [6] khi các cộng đồng khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ chung sống ôn hòa, cùng có chung một ‘Ba Lan tính’.

Việc ngành nghiên cứu Do Thái nở rộ ở Ba Lan thời hậu-1989 có thể giải thích bằng nhiều lý do: vấn đề Do Thái từ lâu là đề tài cấm kỵ và dần bị bỏ rơi, vì thế tồn tại những khoảng trống lớn trong sự hiểu biết về lịch sử và di sản Do Thái ở Ba Lan, cũng như Holocaust; và lịch sử Do Thái từ lâu đã thuộc về phần hoàn toàn vô danh trong lịch sử địa phương và các vùng miền [7]. Chưa kể, sự thay đổi chế độ đã giúp giới nghiên cứu ở Ba Lan thoát khỏi tình trạng kín cổng cao tường trong một khối tách biệt với thế giới, giúp họ tiếp cận được với các tư liệu, các học giả và nhân chứng từ nước ngoài. Ngoài ra,còn phải nhắc đến nhiều mối hấp dẫn khác: nền văn minh Do Thái nằm trong một lịch sử biến động đầy oái oăm và bi tráng mang tên Ba Lan; ngôn ngữ Hebrew, Yiddish và nền văn chương Do Thái; Do Thái giáo và mối quan hệ với Ki-tô giáo; mối quan tâm đến xã hội Israel đương đại; sự tôn kính dành cho người bị sát hại trong Holocaust; mối dây Do Thái trong phả hệ của một phần không ít người Ba Lan; việc mang một thái độ trước chủ nghĩa chống Xê-mít và phát xít mới. Hoặc chỉ đơn giản là người ta cảm thấy được sự mất mát của phần Do Thái trong lịch sử Ba Lan hiện tại.

Lưu trữ và bảo tồn là hai nhu cầu sóng đôi ở bất cứ xã hội hiện đại nào, nhất là ở những nơi tồn tại những khoảng trống (gap) phát sinh từ các điều cấm kỵ (taboo), mỗi lúc một nới rộng theo thời gian. Về điều này, ta có thể liên tưởng và hình dung khá rõ các khoảng trống trong lịch sử Việt Nam hiện đại, như giai đoạn đầu thế kỷ 20, hay nền văn nghệ miền Nam trước 1975. Để phát hiện rất dễ: ‘gap’ hay ‘taboo’ chính là những chỗ mà sách giáo khoa hầu như hoặc hoàn toàn không đã động đến. Bởi lẽ, nếu được phép viết, thì các nhà soạn sách giáo khoa đáng kính đã nhồi nhét tất vào sách giáo khoa lịch sử đáng kính của họ rồi.

Ở phần tiếp theo, ta sẽ xem liệu di sản Do Thái còn lại những gì nguyên vẹn.

-=-=

[1] Xem hình sư tử ở bài trước.
[3] Người đồng sáng lập Công đoàn Đoàn kết; đoạt giải Nobel hòa bình 1983; trở thành Tổng thống Ba Lan giai đoạn 1990-1995 (Xem thêm phim Walesa: Man of Hope (2013) của Andrzej Wajda). Công đoàn Đoàn kết, Solidarność hay Solidarity, là liên minh nghiệp đoàn đầu tiên trong khối Hiệp ước Warsaw không do đảng Cộng sản lãnh đạo, thành lập năm 1980 tại Xưởng đóng tàu ở Gdańsk (trước đây là Danzig).
[4] Linda Nochlin, Tamar Garb (eds), The Jews in the Text: Modernity and the Construction of Identity,tr. 20.
[5] ‘Tolerance’ là khái niệm phức tạp vì liên quan đến những xung đột về tôn giáo trong lịch sử. Tôi dùng chữ ‘khoan hòa’ thay vì ‘bao dung' để nó mang một hàm nghĩa trung tính hơn.
[6] Lịch sử Ba Lan có ba cuộc Chia cắt khiến nước này mất tên trên bản đồ.
[7] Edyta Gawron trong Kate Craddy et al. (eds), Poland: A Jewish Matter.

No comments:

Post a Comment