Phần Hai: Di sản trong đổ nát
Bức hình này được chụp ở lối vào một hội đường bỏ hoang ở thị trấn Dąbrowa Tarnowska. Rất nhiều hội đường ở Galicia trước kia có hình con sư tử trên tường, nhắc về một đoạn trong kinh Talmud[1] ca tụng người Do Thái mạnh mẽ và nhiệt thành như con sư tử, hiến thân phục vụ cho Chúa trời: “Hãy can trường như một con báo, nhẹ nhàng như đại bàng, nhanh nhẹn như hươu, và mạnh mẽ như một con sư tử để thực hiện ý chí của cha ngươi trên thiên đàng”. Hình bốn con vật này thường được trang trí trên tường các hội đường ở Galicia nhằm khích lệ các tín độ tuân theo một cung cách sống cống hiến và mộ đạo. Sự tồn tại củacác giáo đường cho thấy sự hiện diện một thời của văn hóa Do Thái, và họ hãnh diện với sự hiển hiện ấy; người Do Thái không cố giấu nó đi, họ xây những hội đường kỳ vĩ ở trung tâm thị trấn, và họ không hề có ý định chuyển đi nơi khác – các hội đường với họ có tính vĩnh cửu.
Hình ảnh sư tử xuất hiện nhiều trong kinh Tanakh và Talmud. Judah, một trong mười hai người con của Jacob (tên thánh là Israel), được ví như sư tử với khả năng lãnh đạo và thu phục người khác, “Giu-đa là sư tử con. Con ơi, săn mồi xong con lại trở về”[2]. Con sư tử dùng để ám chỉ bộ lạc của Judah[3] và thường xuất hiện trong nghệ thuật Do Thái thời xưa. Trong tấm hình này, đầu con sư tử đã bị xóa mất, để lộ lớp gạch trần trụi bên trong. Sư tử mất đầu là con sư tử chết. Bức tranh tường bị bỏ mặc tiêu điều này có thể coi là một biểu tượng, một lời chứng thực bi ai cho một thế giới bị tàn phá bởi Holocaust, và cho hiện trạng của cộng đồng Do Thái ở vùng này.

Cảnh hoang phế trên trong một hội đường được chụp vào đầu những năm 2000. Sáu mươi năm chiến tranh qua đi, những gì còn sót lại ở một nơi người Do Thái từng thờ phụng, một nơi từng lộng lẫy, huy hoàng và được trang trí tinh xảo, giờ chỉ còn là đống hoang tàn, cây hoang cỏ dại mọc đầy. Ở góc phải phía trên tấm hình ta có thể thấy con sư tử Judah. Hội đường này đặt ở Rymanów; trước năm 1800 thành phố này cùng với Leżajsk là hai trung tâm lớn của tín đồ Hasidim, hay hasidhim (ngoan đạo). Đến giữa thế kỷ 19 phong trào này đã lan rộng và chi phối đời sống người Do Thái ở cả vùng Galicia.
Phong trào Hasidim khởi nguồn từ giữa thế kỷ 18 nhằm chấn hưng đạo Do Thái, có tác động sâu rộng lên cộng đồng này, nhất là ở Đông Âu. Mục đích của nó là giúp số đông người nghèo, ít học thức vẫn có thể kết nối được với Chúa. Giáo sĩ Baal Shem Tov, người khởi xướng, cho rằng “đức tin đích thực không nằm trong tự thân kiến thức lý tính, hiểu biết về kinh Talmud, mà nằm ở sự thăng hoa trong tinh thần, cảm xúc và lòng mộ đạo”[4]. Vì thế ngay cả những người bình dân cũng có thể lĩnh hội được, bằng tình yêu trung thành, lòng kiên định với Chúa trời, bằng sự cầu nguyện. Một người công chính thực sự, tsadik, là một người được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, có thể làm mối trung gian giữa Chúa trời với ngườithường. Một đặc điểm của thế giới quan Hesidim là họ tin vào khả năng củatsadik có thể thu lấy phước lành thánh thiêng về cho con người.
Chính nhờ sự bình dân hóa, phong trào Hasidim lan nhanh trong tầng lớp Do Thái nghèo khốn cùng ở Galicia, bị tác động bởi cuộc chia tách Ba Lan thế kỷ 18 và sự chèn ép của chính quyền mới. Đặc trưng của Hasidim là tính tản mát, bỡi lẽ họ không có một tổ chức thống nhất dẫn dắt; những người Do Thái mộ đạo muốn theo hasidism chỉ cần gắn kết với một vị tsadik. Sau khi người này chết, vị trí ấy sẽ do con trai hoặc con rể kế nhiệm, nên mỗi thành phố, thị trấn có thể có một “vương triều” riêng. Vì thế, thay vì gọi là phong trào, ‘hasidism’ đúng hơn nên dành để gán cho một nhóm, một truyền thống, hoặc một trường phái, với một tôn sư (rebbe). Nhánh này thịnh hành đến độ đến giữa thế kỷ 19 đã trở thành đức tin chi phối trong đa số người Do Thái ở Ba Lan[5]. Diễn giải như vậy để thấy rằng tình trạng tiêu điều của hội đường Rymanów, kể cả sau khi Holocaust đã trôi qua hơn nửa thế kỷ, gieo rắc một nỗi bi ai về sự tàn khốc khó tưởng tượng của thời gian, về cách một nền văn hoá cũ bị tàn phá nhanh chóng trong chiến tranh, và bị bỏ rơi chóng vánh trong một xã hội mới như thế nào.
Một bức hình khác ở hội đường Rymanów, chụp một nhà nguyện hoang phế. Góc dưới bên phải, giữa hai cây cột, là hốc tường được khắc một câu phụng vụ, trớ trêu và mỉa mai thay, đầy sùng kính và mang tính dự báo: “Lạy Đức Chúa, xin dừng lại, ngự giữa trăm họ Ít-ra-en!... [...] lạy Đức Chúa, để chúng con trở về. Xin đổi mới cuộc đời chúng con cho được như thời xa xưa ấy”[6]. Bốn cột trụ này đặt trên một bậc thềm ở trung tâm hội đường, còn gọi là bimah, nơi các giáo sĩ đọc kinh Torah[7] cho các tín đồ.
Trong bức hình dưới đây, ở góc trên bên phải, ta thấy cái rãnh trên khung cửa (mezuzah) bên ngoài một nhà tập thể ở Tarnów. Ngày nay ta có thể tìm thấy dấu vết mezuzah tại nhiều nhà ở Galicia, nhất là tại những ngôi làng nhỏ, hẻo lánh. Một dấu vết nhỏ có thể kể nhiều chuyện về những gì đã xảy ra; ở đây, ta thấy hai đặc điểm của ký ức sang chấn: sự lảng tránh và tính nhất thời.
Mezuzah là cái hộp nhỏ trong đó đựng một cuộn bản văn Kinh thánh Hebrew, được đặt ở bên phải khung cửa một ngôi nhà hoặc cơ sở của người Do Thái để chứng tỏ lòng tận hiến của họ với Chúa trời, với các giới luật (mitzvah), chứng tỏ lòng tin của họ vào một Chúa duy nhất. Nghĩa vụ ấy được nêu trong Kinh thánh Hebrew, dẫn dụ rằng lời của Chúa trời phải hiện diện trong đời sống người Do Thái ở mọi lúc[8]. Nếu như trước kia, đúng với ý nghĩa của nó, mezuzah là thứ người Do Thái nhìn vào mỗi ngày để tự nhắc nhở mình sẽ không phạm giới, thì bây giờ nó chỉ còn là chỉ dấu cho biết nơi đây đã từng là nhà của một gia đình Do Thái. Cái ta thấy ở đây không còn là mezuzah, mà đúng hơn, là dấu vết của cái đã từng. Trong tấm hình, vết rãnh ấy “nói” một cách công khai, hiển hiện về sự biến mất của một gia đình Do Thái khỏi chính ngôi nhà của họ. Vết rãnh bên cạnh một cánh cửa khép hờ là sự tương phản giữa sự tồn tại và tính hư vô. Nó giống như một “vết sẹo”, nhắc ta về sự vắng mặt của họ, những người từng ở ngôi nhà này. Ngôi nhà trên nằm ở phố Zakątna, Tarnów; cánh cửa được sơn sửa lại và vết rãnh này giờ đây đã không còn, hay đúng hơn, biến mất.
-=-
[1] Văn bản quan trọng thứ nhì của Do Thái giáo, sau Kinh thánh Hebrew (Tanakh), tập hợp các đàm luận về pháp luật, đạo đức, ngụ ngôn của các giáo sĩ quan trọng trong lịch sử, là cội nguồn của luật Do Thái.
[2] Sáng Thế Ký 49:9.
[3] Chữ “Jew” (Do Thái) bắt nguồn từ chữ Judah, hay Yehudah trong tiếng Hebrew, nghĩa đen là sự tôn vinh, vinh hiển.
[4] Jonathan Webber, Chris Schwarz, op. cit.
[5] Đối nghịch với nhánh này, nhưng không ưu thế bằng, là Haskalah (Khai sáng), nhằm đưa xã hội Do Thái hòa nhập hơn vào văn hoá châu Âu, coi Hasidim là mê tín. Bao gồm chủ yếu các thương nhân, giáo viên, bác sĩ, nhóm này coi trọng lòng trung thành với chính phủ và nền quân chủ Áo, cổ vũ chủ nghĩa tư bản và nền giáo dục thế tục bằng tiếng Đức, coi Yiddish như một ngôn ngữ lạc hậu. Ở đây đối chọi hai tầng lớp, như một mô-típ quen thuộc: thị dân, trí thức và lớp bình dân khốn cùng.
[6] Dân Số 10:36 và Ai Ca 5:21.
[7] Torah, tức năm quyển đầu tiên hay Ngũ thư của Kinh thánh Hebrew. Cuộn kinh Torah, viết tay trên da thú, được xem là vật thiêng liêng trong hội đường.
[8] “Những lời này tôi truyền cho anh hôm nay, anh phải ghi tạc vào lòng. Anh phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy [...] phải viết lên khung cửa nhà anh, và lên cửa thành của anh”, Đệ Nhị Luật 6:4-9.



No comments:
Post a Comment