8 May 2015

Holocaust và người Do Thái (2)

Phần Một: Người Do Thái ở Ba Lan

Trong vòng ba trăm năm, cho đến trước biến cố Shoah ở thế kỷ 20, Ba Lan được xem là một trung tâm quan trọng của cộng đồng Do Thái phân tán (diaspora), là nơi cư ngụ đông người Do Thái nhất thế giới. Cho đến giữa thế kỷ 19, trước những làn sóng di cư sang Mỹ, khoảng 90 phần trăm người Do Thái sống ở châu Âu, phần đông ở lãnh thổ Ba Lan ngày nay. Giữa hai cuộc thế chiến, cộng đồng này ở Ba Lan có hơn ba triệu người, là sắc tộc thiểu số lớn thứ nhì nước này sau người Ukraine. Song, trong Thế chiến thứ hai, cộng đồng Do Thái ở đây bị hủy diệt gần như hoàn toàn, gần 90 phần trăm buộc phải ra đi hoặc bị sát hại. Sau chiến tranh (1945-1948), số người sống sót cũng dần đi sang Mỹ hoặc Israel. Đáng kể là năm 1968, sau cuộc chiến Sáu Ngày Israel - Ả Rập, dưới ảnh hưởng của Liên Xô, Ba Lan tung ra chiến dịch chống chủ nghĩa Zion khiến người Do Thái ra đi ồ ạt. Ngày nay, người Do Thái ở Ba Lan chỉ còn khoảng 30.000 người [trong khi số người Việt ở Warsaw đã là hơn 50.000]. Các hội đường Do Thái (synagogue) bị bỏ hoang hoặc dùng cho mục đích khác, chẳng hạn thư viện công; các nghĩa trang Do Thái hoang vu, tiêu điều; các tòa nhà tàn tạ trong cộng đồng Do Thái xưa kia được dùng làm chung cư hoặc cư xá sinh viên.

‘Hiện thực thời hiện tại’

Liệu còn sót lại những gì của một nền văn minh Do Thái từng bừng nở trong quá khứ, đằng sau sự điêu tàn đổ nát? “Đổ nát” – khái niệm ấy từng gợi cảm hứng cho Gustave Doré, Hubert Robert hay Joseph Gandy vẽ những tàn tích của quá khứ, từng gợi nên suy nghĩ cho Stendhal trong Những cuộc bộ hành ở Rome: “Thật đẹp làm sao những buổi sáng tôi ở Colosseum, lạc lối trong những góc của đống đổ nát khổng lồ!”; và thú vị thay, những người Đức lại là bậc thầy trong việc tạo ra từ ghép liên quan đến trạng thái đổ nát: Ruinenempfindsamkeit, Ruinensehnsucht hay Ruinenlust. Chúng nhắc ta về sự mong manh của trần thế, nhắc ta từ bỏ các khao khát và huyễn tưởng về sự hoàn mỹ và đủ đầy, rằng “ta chỉ là những quân cờ của các ái lực hủy diệt”[1]. Những tấm hình màu không chỉ tái hiện một lịch sử xa xôi bị lu mờ mà còn mô tả các ‘hiện thực thời hiện tại’. Lẫn và sót trong các hiện thực ấy, là di sản Do Thái ở Ba Lan, là những ký ức về xung đột, bạo lực, về sự hủy diệt của Holocaust.



Bức hình bia mộ duy nhất còn sót lại ở một nghĩa trang Do Thái gợi lên tính ngẫu nhiên của tàn tích. Tấm bia vừa thể hiện dấu vết sau cùng của thế giới Do Thái tiền-Holocaust, vừa là biểu tượng cho những sự kiện bi thương bao trùm thế giới ấy. Điều trớ trêu là một tấm bia mộ lại là vật-sống-sót duy nhất trong một cái nghĩa trang. Vào Thế chiến thứ hai, nghĩa trang này trở thành trại lao động khổ sai, rồi trở thành trại tập trung của Nazi mang tên Płaszów. Các bia mộ bị đào lên và đặt dưới mặt đất làm lối đi, nhà thờ của nghĩa trang bị phá hủy bằng mìn[2]. Mảnh đất dành cho sự chôn cất trang nghiêm trở thành khung cảnh nền cho sự tàn sát người còn sống, i.e. một ‘nghĩa trang kép’ – vẫn là một nghĩa trang với bia mộ đó, nhưng giờ đây còn là nơi ghi dấu nỗi kinh hoàng xảy ra trong Holocaust. Giống như phần lớn nơi khác ở Ba Lan, những gì còn sót lại của nền văn minh Do Thái chỉ là những phân mảnh; bản thân các phân mảnh khó mà kể lại trọn vẹn câu chuyện, nhưng ở nghĩa nào đó, chúng có thể được hiểu như là biểu tượng.



Đây là tấm biển có hình khắc nổi, trên tường tòa thị chính cũ của Kazimierz, khu vực đông người Do Thái ở Kraków trước chiến tranh. Hình trên tấm biển cho thấy người Do Thái được chào đón ở vương quốc Ba Lan thời Trung cổ, cụ thể là thời của Kazimierz Đại đế. Tác giả của bức tranh chạm nổi là nhà điêu khắc Henryk Hochman; ông mất năm 1943 ở Tarnów khi ghetto ở đây bị xóa sổ. Dấu chân sớm nhất của người Do Thái ở Ba Lan được biết đến là vào cuối thế kỷ 11. Họ bắt đầu được pháp luật bảo hộ, có quyền tự trị và tự do tôn giáo dưới đạo luật Kalisz năm 1264[3]. Thế kỷ 14, làn sóng người Do Thái tị nạn đổ đến do bị ngược đãi ở Đức và Bohemia-Moravia (nay thuộc Séc). Cộng đồng này bắt đầu phát đạt, và đến thế kỷ 16, Ba Lan trở thành một trung tâm lớn trong đời sống Do Thái, nơi tập hợp nhiều giáo sĩ aka rabbi; nhiều rabbi lỗi lạc cư ngụ ở Kraków – kinh đô của Ba Lan cho đến cuối thế kỷ 16.

Căn nguyên bài Do Thái

Cho tới trước những cuộc thảm sát Chmielnicki[4] năm 1648-49, Ba Lan thế kỷ 17 được xem là thiên đường cho giới quý tộc và chốn đày ải cho nông dân, đồng nghĩa với thiên đường cho người Do Thái. Người Do Thái khi ấy đại diện cho lớp trung lưu lái buôn; họ đóng vai trò là người trung gian đứng ra thu doanh lợi cho chính phủ, từ những mỏ muối hay đồn điền của tầng lớp quý tộc. Họ đóng thuế và được hưởng quyền lợi như các công dân khác. Theo lời rabbi Moses Isserles ở Kraków, “tại đất nước này không có sự căm ghét khắc nghiệt với chúng ta như ở Đức. Hãy hy vọng điều ấy tiếp tục cho đến khi đấng Messiah xuống cứu chuộc tội lỗi loài người”. Vậy nạn bài Do Thái, hay tư tưởng chống Xê-mít[5] đến từ đâu? Mãi đến năm 1933 hoàn cảnh châu Âu mới tạo tiền đề cho Holocaust, vậy còn trước đó?

Vị trí của người Do Thái ở châu Âu cũng chính là vị trí của người Do Thái trong thế giới Ki-tô giáo. Cả Do Thái giáo lẫn Ki-tô giáo đều là tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, tức từ Kinh thánh Hebrew hay Cựu Ước. Song, Ki-tô giáo nhìn nhận Chúa Giê-xu là Con Thiên Chúa, và là một thân vị trong Thiên Chúa Ba Ngôi, trong khi Do Thái giáo cho rằng Thiên Chúa là duy nhất và không công nhận Giê-su. Thiết chế của giáo hội Công giáo[6] dựa trên truyền thống kế vị tông đồ (apostolic succession), tức dựa trên mối dây không thể phá vỡ giữa giáo hoàng tại vị với tất cả giáo hoàng trước đó, với thánh Phê-rô aka tông đồ Peter, và giữa thánh Phê-rô với Giê-su Ki-tô, người tín nhiệm trao cho Phao-lô chìa khóa vào Vương quốc Thiên đàng (vì theo lời Giê-su: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”[7]). Nhưng mặt khác, theo sứ đồ Phao-lô aka Xanh Pôn (St. Paul), Chúa trời tạo ra một giao ước thứ hai với loài người thông qua Giê-su xứ Nazareth. Giê-su được Chúa Thánh linh xức dầu[8] để mang sự cứu chuộc cho loài người, nhờ đó thiết lập Vương quốc Thiên Chúa trên trần gian. Giao ước mới này được Phao-lô giải thích trong lá thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô (“Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống”[9]). Vì thế Ki-tô giáo sơ kỳ thế kỷ 2 và 3 đối diện với câu hỏi, là làm thế nào lý giải mối quan hệ giữa giao ước cũ và giao ước mới, giữa người Do Thái và người Ki-tô giáo. Những nhóm Ki-tô giáo triệt để cho rằng nếu giao ước cũ giết chết còn giao ước mới ban sự sống như lời thánh Phao-lô thì người Do Thái chính là đại diện của quỷ dữ. Đây là mối dây khởi thủy của nạn bài Do Thái ở châu Âu.

Ba Lan là nước đầu tiên tập trung đông người Do Thái có quyền tự trị đáng kể, có thể coi là chế độ công dân tự trị. Những đợt di cư đông đảo nhất là vào khoảng năm 1200-1400. Số dân này đến từ phía Tây, tức phần lớn là “Ashkenazi Jew”, theo Do Thái giáo chính thống (Orthodox Judaism) và nói tiếng Yiddish[10]. Ba Lan thời Trung cổ là một trong những quốc gia đa dạng về văn hóa và dễ chịu nhất với người Do Thái ở châu Âu. Tất nhiên không hẳn lúc nào họ cũng có cuộc sống dễ chịu, nhưng chắc chắn là dễ chịu hơn ở bất kỳ nước châu Âu nào khác. Điều này lý giải cho việc: (1) Ba Lan có cộng đồng Do Thái đông đảo nhất châu Âu; và (2) một nền văn minh Do Thái giàu có và phong phú đã phát triển ở lãnh thổ Ba Lan[11]. Người Do Thái ở Ba Lan tạo dựng nên kiến trúc về định chế chặt chẽ vào bậc nhất trong lịch sử cộng đồng này ở châu Âu: các nghiệp hội thủ công, đoàn thể tự nguyện, chính quyền cấp địa phương, hội đồng cấp vùng, cho đến hội đồng quốc gia và nghị viện – còn gọi là Hội đồng Bốn Vùng (Council of Four Lands, đặt ở Lublin), chính quyền trung ương tự trị của người Do Thái ở Ba Lan thế kỷ 16-18. Đó là cộng đồng Do Thái đông đảo nhất tính tới trước thế kỷ 20, với đầy đủ giáo lệ, kiến trúc hành chính, và quyền công dân ở chính phủ sở tại không bị xâm hại. Những gì sót lại ngày nay - nhà của họ, các hội đường, các cơ sở cộng đồng và những nghĩa trang - chứng thực cho sự giàu có và đa dạng của nền văn hóa họ xây dựng ở Ba Lan trong nhiều thế kỷ, và chứng thực cho tính khủng khiếp của sự hủy tàn.

Ở bài tiếp theo, tôi sẽ đi sâu hơn vào di sản Do Thái trong “đổ nát” – chìa khoá đưa ta vào các ‘hiện thực thời hiện tại’ của quá khứ Do Thái ở Ba Lan.


[Hình con sư tử của Judah mất đầu ở một hội đường bỏ hoang tại Dąbrowa Tarnowska. (Photos courtesy of Galicia Jewish Museum)]
---
[1] Alain de Botton, Status Anxiety.
[2] Jonathan Webber, Chris Schwarz, Rediscovering Traces of Memory: The Jewish Heritage of Polish Galicia.
[3] Kalisz Statute, do vua Boleslaus ban hành, kết tội việc phỉ báng và sát hại người Do Thái, cho phép người Do Thái lập chính quyền tự trị bên trong Ba Lan, được dùng tiếng Yiddish làm ngôn ngữ chính thức. Đạo luật Kalisz mở lối cho truyền thống ứng xử khoan hòa, cho phép văn minh Do Thái bừng nở ở Ba Lan.
[4] Cuộc nổi dậy của Cossack ở Ukraine dưới sự dẫn dắt của Bohdan Khmelnytsky/Chmielnicki nhằm chống lại các chủ đất Ba Lan, giới giáo sĩ Ki-tô giáo và người Do Thái. Hằng trăm cộng đồng Do Thái bị xoá sổ, hàng trăm nghìn người bị sát hại. Dân ngoại Do Thái (gentile) ở Ukraine xem Chmielnicki là anh hùng và coi đây là cuộc đấu tranh giải phóng Ukraine khỏi ách thống trị của Ba Lan.
[5] Anti-semitism. Từ ‘Semite’ xuất phát từ Shem, tên người con cả trong ba người con của Noah, được xem là Hùng-king của các dân tộc Xê-mít. Xem thêm phim Noah của Darren Aronofsky có em Emma Watson đóng.
[6] Ở đây phân biệt thuật ngữ: Ki-tô giáo (Christian), giáo hội Công giáo (Catholic Church).
[7] Mátthêu 16:18.
[8] Từ “Christ” trong tiếng Hy Lạp, hay Ki-tô trong phiên âm tiếng Việt, hay “Cơ-Đốc” trong tiếng Tàu, tương đương “Messiah” trong tiếng Hebrew, nghĩa là “người được xức dầu” hay đấng cứu thế
[9] Côrintô 2 3:6.
[10] Song đến thời Nazi, chính thành phần này bị xem là Ostjuden, tức người Do Thái phương Đông, được coi là nghèo hèo, là “sâu mọt” khi họ đổ sang các nước Tây Âu. Diệt trừ Ostjuden là một trong những mục đích trước tiên của Nazi.
[11] Debórah Dwork, Robert Jan van Pelt, Holocaust: A History.

No comments:

Post a Comment