Cho đến khi thua cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, trong số những thế lực phương Tây, người Pháp hiểu xứ sở này hơn ai hết. Thế mà sau gần một thế kỷ hiện diện, họ lại không kịp chuẩn bị cho sự cáo từ. Việc trở lại Bắc Kỳ năm 1946 là nỗ lực cứu vãn danh dự của người Pháp sau khi quân Nhật làm cho bẽ mặt. Đội quân mới của tướng Jean-Étienne Valluy tới Đông Dương với thái độ hiếu chiến trong khi không hiểu gì về xứ sở này, cùng sự phức tạp của những rắc rối đang đợi phía trước.
Sự kiện Điện Biên Phủ đã đặt dấu chấm hết chóng vánh cho người Pháp. Họ bước ra khỏi Việt Nam khi vẫn còn trong cơn mộng mị và tự vấn, một nốt lặng kéo dài cho sự ru ngủ đã sẵn có từ những rạn nứt và sai lầm trong chính sách thuộc địa; đối nghịch với đó là sự trưởng thành và lớn mạnh của những phong trào yêu nước ở Đông Dương. Kết thúc ấy được đánh dấu bằng sự bẽ bàng và thất vọng của một thế lực từng đi khai hóa.
Tất thảy cảm xúc này được gói ghém vào câu chuyện lãng mạn và bi thương trong Hanoi, adieu – Những kỷ niệm vui buồn về xứ Đông Dương thuộc Pháp (Lý Quốc Bảo dịch, NXB Văn Học & Đông Tây ấn hành). Michel L'Herpinière đến Hà Nội năm 16 tuổi với cuộc đời sung túc và đầy ắp lý tưởng, nhưng không ngờ rằng sẽ phải trải qua 15 năm chứng kiến tất cả xung đột, thay đổi ở mảnh đất này. Tình yêu không được đền đáp của Michel với Hà Nội và xứ Đông Dương là mắt xích logic trong hành trình đi tìm căn cước của chàng lính. Sự tương phản ở chỗ, xứ Đông Dương biến chuyển quá nhanh và Michel sống cuộc đời quá chậm rãi.
Những năm đi học ở trường Albert Sarraut, anh đã nhận ra những người bạn An Nam khác với người Lào và Campuchia, họ đầy cương quyết và có tính ganh đua cao. Rồi mối quan hệ của Michel với bạn bè An Nam thưa lỏng dần, cuộc sống bình lặng của Hà Nội chỉ là bề ngoài mong manh. Mặc dầu chiến tranh đang tàn nhẫn ăn sâu vào cuộc sống thường nhật, nhưng với nhiệt huyết tuổi trẻ, Michel “túm lấy bất cứ điều gì gợi lên hi vọng cho tương lai”.
Từ một cậu bé được bao bọc thành người đàn ông trưởng thành, sâu thẳm trong tâm trí Michel là sự tự vấn: ta là ai, liệu ta có hòa nhập được vào bản sắc của xứ này. Khi con trai đầu tiên ra đời, anh cảm thấy sức nặng cả thế giới đè lên vai mình. “Tương lai nào cho con cái chúng tôi ở xứ Bắc Kì này? Liệu tôi có thể tha thứ cho bản thân nếu con tôi trở thành nạn nhân sự ngu xuẩn của tôi, vì tình yêu ích kỷ với một đất nước thậm chí không phải của mình” (tr. 377).
Ý niệm chiến tranh chưa bao giờ được cắt nghĩa rõ ràng với Michel. Anh không đăng lính để bảo vệ quyền lợi của thực dân Pháp. Michel tin rằng có một sức hấp dẫn văn hoá giữa hai dân tộc, cái cách người Việt hòa nhập quá dễ dàng vào phong cách Pháp, và sự tao nhã của người Việt lại hết sức hợp với quan niệm của người Pháp về tính thẩm mĩ. Mong được chuyển đến chiến trường châu u, nhưng anh lại bị kẹt trong cuộc chiến ở Đông Dương để rồi nhận ra mình không thuộc một phe nào có nghĩa lý: người An Nam, cộng đồng “colon” lâu năm ở Bắc Kì, quân Đồng Minh, quân phát xít. Tất cả đều không phải: “Lòng trung thành của tôi nằm ở đây, tại Bắc Kì, nhưng tôi đang bị gạt bỏ đi bởi lí do đơn giản tôi là người Pháp” (tr. 391).
Tác giả Mandaley Perkins đã dựng lên cái nhìn trung thực của một người trẻ về chiến tranh: nỗi khiếp hãi trước sự mong manh của cuộc đời. Cái chết và bạo lực hiện diện ngay trước mắt, nhưng hiện thực lại trở nên quá xa xôi. Sự hiện hữu, mọi khao khát của con người được thu gọn vào khoảnh khắc, những quyết định lớn nhất của đời người được giản lược vào trong tích tắc, và từng cá nhân bị rút gọn vào trong sự ngẫu nhĩ, đầy cảm hứng của lịch sử.
Nếu như trong những tác phẩm từng được ái mộ tại Việt Nam của Erich Maria Remarque, tâm hồn người lính chai sạn, và theo cách nào đó, trưởng thành qua chiến tranh, thì ở Hanoi, adieu, chiến tranh chỉ làm tâm hồn người ta thêm vỡ vụn. Trong sự bạo liệt đó, tình yêu của Michel, dẫu là với Hà Nội đã thay đổi (“Tôi yêu cái lối sống Pháp của Bắc Kì”) hay với nàng Marie Claire, người tình hơn tuổi mong manh dễ vỡ (“cặp mắt xanh lấp lánh” và “cái miệng trêu ghẹo ấy”), rồi cũng quy giản thành le coup de grâce, một phát ân huệ.
![]() |
| Những quyết định lớn của đời người được giản lược vào trong tích tắc. |
Tất thảy cảm xúc này được gói ghém vào câu chuyện lãng mạn và bi thương trong Hanoi, adieu – Những kỷ niệm vui buồn về xứ Đông Dương thuộc Pháp (Lý Quốc Bảo dịch, NXB Văn Học & Đông Tây ấn hành). Michel L'Herpinière đến Hà Nội năm 16 tuổi với cuộc đời sung túc và đầy ắp lý tưởng, nhưng không ngờ rằng sẽ phải trải qua 15 năm chứng kiến tất cả xung đột, thay đổi ở mảnh đất này. Tình yêu không được đền đáp của Michel với Hà Nội và xứ Đông Dương là mắt xích logic trong hành trình đi tìm căn cước của chàng lính. Sự tương phản ở chỗ, xứ Đông Dương biến chuyển quá nhanh và Michel sống cuộc đời quá chậm rãi.
Những năm đi học ở trường Albert Sarraut, anh đã nhận ra những người bạn An Nam khác với người Lào và Campuchia, họ đầy cương quyết và có tính ganh đua cao. Rồi mối quan hệ của Michel với bạn bè An Nam thưa lỏng dần, cuộc sống bình lặng của Hà Nội chỉ là bề ngoài mong manh. Mặc dầu chiến tranh đang tàn nhẫn ăn sâu vào cuộc sống thường nhật, nhưng với nhiệt huyết tuổi trẻ, Michel “túm lấy bất cứ điều gì gợi lên hi vọng cho tương lai”.
Từ một cậu bé được bao bọc thành người đàn ông trưởng thành, sâu thẳm trong tâm trí Michel là sự tự vấn: ta là ai, liệu ta có hòa nhập được vào bản sắc của xứ này. Khi con trai đầu tiên ra đời, anh cảm thấy sức nặng cả thế giới đè lên vai mình. “Tương lai nào cho con cái chúng tôi ở xứ Bắc Kì này? Liệu tôi có thể tha thứ cho bản thân nếu con tôi trở thành nạn nhân sự ngu xuẩn của tôi, vì tình yêu ích kỷ với một đất nước thậm chí không phải của mình” (tr. 377).
Ý niệm chiến tranh chưa bao giờ được cắt nghĩa rõ ràng với Michel. Anh không đăng lính để bảo vệ quyền lợi của thực dân Pháp. Michel tin rằng có một sức hấp dẫn văn hoá giữa hai dân tộc, cái cách người Việt hòa nhập quá dễ dàng vào phong cách Pháp, và sự tao nhã của người Việt lại hết sức hợp với quan niệm của người Pháp về tính thẩm mĩ. Mong được chuyển đến chiến trường châu u, nhưng anh lại bị kẹt trong cuộc chiến ở Đông Dương để rồi nhận ra mình không thuộc một phe nào có nghĩa lý: người An Nam, cộng đồng “colon” lâu năm ở Bắc Kì, quân Đồng Minh, quân phát xít. Tất cả đều không phải: “Lòng trung thành của tôi nằm ở đây, tại Bắc Kì, nhưng tôi đang bị gạt bỏ đi bởi lí do đơn giản tôi là người Pháp” (tr. 391).
Tác giả Mandaley Perkins đã dựng lên cái nhìn trung thực của một người trẻ về chiến tranh: nỗi khiếp hãi trước sự mong manh của cuộc đời. Cái chết và bạo lực hiện diện ngay trước mắt, nhưng hiện thực lại trở nên quá xa xôi. Sự hiện hữu, mọi khao khát của con người được thu gọn vào khoảnh khắc, những quyết định lớn nhất của đời người được giản lược vào trong tích tắc, và từng cá nhân bị rút gọn vào trong sự ngẫu nhĩ, đầy cảm hứng của lịch sử.
Nếu như trong những tác phẩm từng được ái mộ tại Việt Nam của Erich Maria Remarque, tâm hồn người lính chai sạn, và theo cách nào đó, trưởng thành qua chiến tranh, thì ở Hanoi, adieu, chiến tranh chỉ làm tâm hồn người ta thêm vỡ vụn. Trong sự bạo liệt đó, tình yêu của Michel, dẫu là với Hà Nội đã thay đổi (“Tôi yêu cái lối sống Pháp của Bắc Kì”) hay với nàng Marie Claire, người tình hơn tuổi mong manh dễ vỡ (“cặp mắt xanh lấp lánh” và “cái miệng trêu ghẹo ấy”), rồi cũng quy giản thành le coup de grâce, một phát ân huệ.

No comments:
Post a Comment