19 May 2013

Giai đoạn gương (Jacques Lacan)

Giai đoạn gương như là sự cấu thành chức năng của cái “Tôi”
(được cho thấy trong thực hành tâm phân học)

Khái niệm giai đoạn gương mà tôi đã giới thiệu trong cuộc hội nghị của chúng ta 13 năm trước đã ít nhiều được nhóm ở Pháp dùng trong việc khám bệnh. Tuy vậy, tôi thấy cần phải nhắc lại khái niệm này, đặc biệt là hôm nay, do vai trò soi rọi của nó lên sự hình thành cái “Tôi”[1] như chúng ta đã biết trong thực hành tâm phân học. Kinh nghiệm đó đưa chúng ta đến chỗ đối lập với bất cứ triết thuyết nào trực tiếp bắt nguồn từ Cogito.[2]

Bản ngã luôn được xây dựng trong mối quan hệ với một sự hư cấu
Một số trong các bạn có thể nhớ lại rằng khái niệm giai đoạn gương bắt nguồn từ một đặc tính của hành vi con người, được làm sáng tỏ nhờ một thực tế của môn tâm lý học so sánh. Đứa trẻ, trong một giai đoạn ngắn, tuy trí khôn có thể thua loài tinh tinh, song đã có thể nhận biết được hình ảnh của mình trong gương. Nhận thức này được ám chỉ trong sự bắt chước soi rọi [illuminative mimicry] của giai đoạn Aha-Erlebnis[3], được Köhler xem như biểu hiện của thông giác có tính hoàn cảnh [situational apperception], một giai đoạn cốt yếu của hành vi trí khôn [act of intelligence].

Nếu lặp lại liên tục, như trong trường hợp của khỉ, con khỉ sẽ quen với hình ảnh ấy và nhận ra chẳng có gì trong đó; song hành vi này [việc nhìn vào trong gương - ND] lại lập tức khiến một đứa trẻ phản ứng thông qua một loạt cử chỉ mà đứa trẻ ấy thực hiện, đùa bỡn với mối liên hệ giữa các chuyển động trong gương và môi trường phản chiếu bên ngoài, giữa sự phức tạp ảo với thực tại mà nó sao y - ấy là cơ thể của chính đứa trẻ, và những người, những vật xung quanh nó.

Như chúng ta đã biết từ thời Baldwin[4], điều này có thể xảy ra từ khi đứa trẻ lên sáu tháng tuổi, và việc lặp đi lặp lại này thường làm tôi suy ngẫm về cảnh tượng kỳ khôi: một đứa trẻ đứng trước gương. Vẫn chưa biết đi, thậm chí là đứng dậy, chỉ biết bám chặt vào cái gì đấy, bất kể là người hay vật (trong tiếng Pháp chúng tôi gọi là “trotte-bébé”[5]), tuy vậy bằng một thoáng kích động hớn hở, nó vượt qua được những cản trở từ vật hỗ trợ và chăm chú trong một cử động hơi nghiêng tới phía trước, để có thể nhìn chằm chằm, thu vào trong mắt nó nhát cắt tức thì của hình ảnh.

Theo tôi, hành động này sẽ kéo dài cho tới 18 tháng tuổi. Điều này cho thấy một tính động libido [libidinal dynamism],[6] vốn cho tới nay vẫn còn mơ hồ, đồng thời cũng để lộ một cấu trúc mang tính bản thể của thế giới con người, khá tương hợp với những suy tưởng của tôi về tri thức hoang tưởng [paranoiac knowledge][7].

Chúng ta chỉ cần hiểu giai đoạn gương như là một sự đồng nhất hoá[8], hoàn toàn theo nghĩa mà khoa phân tích trao cho khái niệm này: nghĩa là, sự chuyển biến xảy ra ở chủ thể khi nó [đứa trẻ] nắm lấy một hình ảnh - chỉ hướng của hình ảnh này có thể được gói gọn bằng một thuật ngữ cũ, trong lý thuyết phân tích, là imago.[9]

Việc đứa trẻ mừng rỡ nắm lấy hình ảnh này của nó trong gương, ở giai đoạn sơ sinh [infans][10], trong khi vẫn chưa có khả năng vận động và còn phụ thuộc vào sự chăm bẵm, có vẻ sẽ cho thấy ma trận biểu tượng, trong một hoàn cảnh ví dụ, ở đó cái Tôi được hình thành trong một hình thức nguyên thuỷ, trước khi nó được cụ thể hoá trong phép biện chứng đồng nhất nó với cái khác, và trước khi ngôn ngữ mang trở lại cho nó, nói chung, chức năng như là chủ thể.

Hình thức [nguyên thuỷ - ND] này sẽ được gọi là cái Tôi-Lý tưởng[11], nếu như chúng ta muốn dung nạp nó vào cách dụng ngôn thông thường của mình, tức là nó cũng sẽ đóng vai trò khởi nguyên của những đồng nhất hoá thứ cấp [seconary identifications], một thuật ngữ tôi dùng để nói đến các chức năng của sự tiêu chuẩn hoá về tính dục [libidinal normalization]. Song, điều quan trọng là hình thức này đặt cái đại diện của bản ngã [moi] đứng trước sự xác định xã hội của nó, theo một phương hướng hư cấu[12]. Phương hướng này không bao giờ thâu gọn cho riêng cá nhân, hoặc sẽ chỉ tiến đến việc trở-thành-hữu-thể [coming-into-being hay le devenir] của chủ thể một cách tiệm cận[13], dù cho những phép tổng hợp biện chứng[14] anh ta dùng để giải quyết mối bất hoà của anh ta, với tư cách cái Tôi, với hiện thực của chính mình có thành công thế nào chăng nữa.

Sự thật là, hình thức sau rốt của cơ thể mà chủ thể dựa vào đó để đoán trước - trong một ảo vọng - sự trưởng thành về quyền lực của anh ta, chỉ được trao cho anh ta như là Gestalt[15], trong một ngoại vi mà ở đó hình thái này chắc chắn mang tính thành tố [constituent] hơn là được cấu thành [constituted], nhưng cũng ở đó nó hiện ra trên hết với anh ta trong một kích cỡ tương phản (un relief de stature [một vóc người nổi lên]) giúp cố định nó và trong một đối xứng giúp xoay ngược nó, tương phản với những chuyển động hỗn độn mà chủ thể cảm thấy đang làm anh ta vận động. Bởi vậy, Gestalt này - ái lực[16] của nó nên gắn với từng loài, mặc dù phong cách chuyển động của nó vẫn khó có thể phân định - nhờ hai khía cạnh ở bề ngoài, biểu trưng cho sự vĩnh cửu về tâm thần của cái Tôi, ngay khi nó báo trước cái điểm đến xa lánh của nó; nó vẫn còn đầy ứ những sự tương hợp giúp hợp nhất cái Tôi với bức tượng mà con người phóng chiếu anh ta, với những bóng ma thống trị anh ta, hoặc là với tên người máy, trong một mối quan hệ mơ hồ, mà thế giới anh ta tạo ra tìm thấy trong nó sự hoàn thiện.[Đoạn này nói về tính lạ, tính sai sót của tấm ảnh trong gương - ND]

Quả thực với những imago - chúng ta có quyền nhìn thoáng các khuôn mặt che mạng của nó trong trải nghiệm hằng ngày của mình và trong vùng nửa tối của hiệu lực biểu trưng[17][symbolic efficacity] - hình ảnh trong gương có vẻ sẽ là ngưỡng của thế giới thấy được, nếu chúng ta xem xét cách bố trí gương mà imago của cơ thể một người thể hiện trong các ảo giác hoặc giấc mơ, dù là nó liên quan đến những đặc điểm cá nhân, hoặc những thiết sót, hoặc các phóng chiếu-đối tượng [object-projection]của nó hay không; hoặc nếu chúng ta quan sát vai trò của bộ máy gương [mirror apparatus] trong những sự xuất hiện của kẻ song trùng, mà ở đó các hiện thực trong tâm thần được biểu hiện, tuy là dị tính.

Việc một Gestalt có thể có các hiệu ứng hình thành lên một thực thể [organism] được chứng thực qua một thí nghiệm sinh học vốn quá xa lạ với quan niệm về tính nhân quả trong tâm thần đến nỗi tự nó không thể được trình bày theo cách hiểu này. Song, thí nghiệm này ghi nhận rằng, điều kiện cần thiết cho sự trưởng thành của tuyến sinh dục của con chim bồ câu cái là nó nên nhìn thấy một thành viên khác trong loài của nó, bất kể giới tính nào; bản thân nó đã có đủ điều kiện này, nhờ đó chỉ cần đặt cá thể trong phạm vi trường phản chiếu của một tấm gương là có thể đạt được hiệu ứng mong muốn. Tương tự, trong trường hợp của con châu chấu di trú, sự chuyển tiếp trong một thế hệ từ hình thái cô độc sang bầy đàn có thể đạt được nhờ phơi bày cá nhân, ở một giai đoạn nhất định, ra trước một hành động thực tế, riêng biệt của một hình ảnh tương tự, miễn là hình ảnh đó được làm sinh động nhờ những chuyển động của một phong cách đủ gần gũi với cá tính đó của loài đó [như châu chấu]. Những hiện tượng đó được lưu lại trong một trật tự đồng nhất hoá mang tính hình thái-đồng dạng [homeomorphic][18], để rồi tự nó sẽ rơi vào một câu hỏi lớn hơn về ý nghĩa của cái đẹp[19], như là thứ vừa có tính hình thành [formative] vừa có tính hữu cơ [organic].[20]

Song, nếu nhận thức những hiện tượng của sự bắt chước [kể trên] như là các trường hợp của đồng nhất hoá dị hình[21], thì chúng cũng mang tính dẫn dắt cũng như làm nảy sinh vấn đề về ý nghĩa của không gian cho các thực thể sống - các khái niệm tâm lý học dường như đủ thích hợp để rọi ánh sáng vào các vấn đề này, không kém gì những nỗ lực lố bịch để giảm trừ chúng thành cái gọi là luật thích nghi tối thượng. Chúng ta chỉ cần nhớ lại Roger Caillois (khi ấy còn rất trẻ và vừa mới tuyệt giao với trường phái xã hội học[22] nơi đào tạo ông) đã soi rọi chủ đề này bằng cách dùng thuật ngữ "suy tâm thần-truyền thuyết" [legendary psychasthenia][23] để phân loại sự bắt chước về hình thái như là một nỗi ám ảnh với không gian trong hiệu ứng xa rời hiện thực của nó.

Tôi cũng chứng minh, trong phép biện chứng xã hội cấu tạo tri thức con người như là chứng hoang tưởng [paranoiac][24], lý do tại sao tri thức con người được tự trị nhiều hơn tri thức loài vật, trong mối tương quan với trường ái lực của ham muốn, và đồng thời lý do tại sao tri thức con người được quyết định trong cái "hiện thực nhỏ nhoi" (ce peu de réalité) đó, thứ mà các nhà siêu thực không ngừng xem là giới hạn của tri thức đó. Những suy tưởng này khiến tôi nhận ra, trong việc thu đoạt không gian diễn ra trong giai đoạn gương, thậm chí trước phép biện chứng xã hội, tác động của sự thiếu thốn mang tính hữu cơ trong hiện thực tự nhiên của anh ta lên chính con người anh ta, bất kể từ "tự nhiên" có được gán bất cứ ý nghĩa nào chăng nữa.

Nhờ vậy, tôi bắt đầu xem xét chức năng của giai đoạn gương như là trường hợp riêng biệt của chức năng imago, tức là nhằm thiết lập mối quan hệ giữa thực thể và hiện thực của nó - hay như người ta vẫn nói, giữa Innenwelt và Umwelt.[25]

Tuy nhiên, với con người, mối quan hệ với tự nhiên này được thay đổi nhờ một sự nứt nẻ[26] nhất định[27] tại trái tim của thực thể, một mối Bất hoà nguyên thuỷ lộ ra nhờ các dấu hiệu của trạng thái bứt rứt và thiếu hiệp đồng tác quán tính [motor uncoordination] của những tháng sau khi sinh. Ý niệm khách quan về sự chưa hoàn thiện về giải phẫu của hệ thống hình tháp[28] và tương tự là sự hiện diện của những phần sót lại thể dịch [humoral residue] nào đó của thực thể mẹ xác nhận quan điểm mà tôi đã xác lập như là vấn đề của một tính non nớt đặc thù của sự sinh[29] thực thụ ở con người.

Cũng phải chú ý rằng, các nhà phôi học [embryologist] cũng vô tình nhận ra như vậy, qua khái niệm bào thai hoá [foetalization], xác định sự thịnh hành của cái gọi là bộ máy vượt trội của neurax,[30] và đặc biệt là cortex [vỏ não], mà các phép mổ tâm thần-giải phẫu giúp ta xem đó như là tấm gương nội-hữu cơ [intra-organic mirror].[31]

Bước phát triển này được trải nghiệm như là một phép biện chứng về thời gian đã phóng chiếu dứt khoát sự hình thành của cá nhân vào trong lịch sử. Giai đoạn gương là một vở kịch mà thôi thúc bên trong đến từ việc chưa đủ để lường trước. Giai đoạn gương cũng tạo ra cho chủ thể, bị mắc kẹt trong mồi nhử của sự đồng nhất hoá không gian, một loạt các huyễn tưởng trải rộng từ một cơ thể-hình ảnh [body-image] phân mảnh đến một hình thức toàn thể của nó mà tôi gọi là chỉnh hình [orthopedic][32] - và cuối cùng, đến một giả định về vỏ bọc của một thực thể xa lạ, vốn sẽ đánh dấu với cấu trúc vững chắc của nó sự phát triển toàn bộ tâm thần của chủ thể. Vì vậy, việc phá vỡ vòng vây của Innenwelt để tiến vào Umwelt sản sinh ra phép "biến tròn thành vương" [quadrature] vô tận của những sự xác minh [verification] của bản ngã.[33]

Cơ thể phân mảnh này - thuật ngữ tôi cũng đã giới thiệu vào hệ thống tham khảo mang tính lý thuyết của chúng ta - luôn bộc lộ nó trong các giấc mơ khi chuyển động của phép phân tích chạm phải một mực độ nhất định của sự phân rã hung hăng [aggressive disintegration] trong cá nhân. Từ đó nó xuất hiện dưới hình thức của những chi bị tháo rời [disjointed limbs], hay những cơ quan hiện diện trong exoscopy[34], những cánh mọc lên và biến thành cánh tay của những trò hành hạ trong ruột - rất giống với viễn cảnh mà Hieronymus Bosch[35] đưa ra, mọi lúc, trong hội hoạ, trong sự thăng tiến tử thế kỷ 15 đến đỉnh cao của trí tưởng tượng ở con người hiện đại. Song, hình thức này thậm chí còn được phơi bày rõ ở mức độ hữu cơ, trong những đường thẳng "mong manh hoá" [fragilization] phơi rõ ruột gan của huyễn tưởng, như thể hiện trong chứng loạn thần kinh và các triệu chứng đột biến của cuồng loạn.

Tương tự, sự hình thành của cái Tôi được biểu tượng hoá trong các giấc mơ bằng một pháo đài, hay một sân vận động[36] - tức là đấu trường và phạm vi bên trong của nó, bao quanh là các đầm lầy và rác rưởi trôi nổi, chia nó thành hai trường đấu đối lập nơi chủ thể hì hụp trong hành trình truy lùng cái lâu đài bên trong ngật ngưỡng, xa cách, mà hình thức của nó (đôi khi được đặt kế trong cùng viễn cảnh) biểu trưng cho cái ấy (id) theo một cách khá bất ngờ. Cũng như thể, ở khía cạnh tâm thần, chúng ta nhận racấu trúc của những công trình được làm cho vững chắc, như thể xuất phát từ chính các triệu chứng, để chỉ định các cơ chế của chứng loạn thần kinh gây ám ảnh - sự đảo ngược, tách biệt, lặp lại, huỷ bỏ và dời chỗ.[37]

Song, nếu chúng ta chỉ xây dựng dựa trên những dự kiện khách quan cho trước này - bất kể chúng ta giải phóng chúng khỏi hoàn cảnh kinh nghiệm đã khiến chúng ta coi chúng như là dự phần của tự nhiên về một kỹ thuật ngôn ngữ học đến đâu - các nỗ lực của lý thuyết của chúng ta vẫn phải đối mặt với trách nhiệm phóng chiếu chúng vào miền bất khả tư duy của một chủ thể tuyệt đối. Đây là lý do tại sao tôi đi tìm trong giả thuyết hiện tại, dựa vào sự tiếp hợp của dữ liệu khách quan, một lưới dẫn cho một phương pháp quy giảm biểu tượng [symbolic reduction].

Nó thiết lập trong các cơ chế phòng vệ bản ngã [defences of the ego] một trật tự gen, đề phù hợp với mong muốn được quý cô Anna Freud đưa ra, trong phần đầu công trình lớn của cô,[38] và định vị (trái ngược với một định kiện công khai thường thấy) sự kìm nén cuồng loạn và những lượt quay lại của nó ở một giai đoạn cổ xưa hơn là sự đảo nghịch ám ảnh và các quá trình cô lập của nó, và cái vế sau đến lượt nó lại mào đầu cho mối bất hoà hoang tưởng, bắt nguồn từ việc cái Tôi phản chiếu bị trệch đi thành cái Tôi xã hội[39].

Thời điểm mà giai đoạn gương tiến đến hồi kết chào đón, bằng việc đồng nhất hoá với imago của cái đối âm và vở kịch của sự đố kỵ nguyên thuỷ (được đưa ra bởi trường phái Charlotte Bühler trong hiện tượng về tính bắc cầu thơ ấu [infantile transitivism][40]), phép biện chứng sẽ theo đó liên kết cái Tôi với các hoàn cảnh phức tạp mang tính xã hội[41].

Chính thời điểm này đã đẩy dứt khoát toàn bộ tri thức con người vào miền trung giới [mediatization] qua khao khát của người khác, thiết lập các đối tượng của nó trong một sự cân bằng trừu trượng nhờ sự hợp tác của những người khác, và biến cái Tôi thành bộ máy mà mọi thôi thúc bản năng đều cấu thành một mối nguy dành cho nó, dẫu cho nó cần tương hợp với một sự trưởng thành tự nhiên - chính sự tiêu chuẩn hoá quá trình trưởng thành này, theo đó, phụ thuộc, ở con người, vào một trung giới mang tính xã hội, trong trường hợp đối tượng tính dục, bằng phức cảm Oedipus.[42]

Dưới ánh sáng của nhận thức này, khái niệm tự mê chính yếu[43] mà học thuyết phân tích dùng để chỉ đặc tính tích tụ libido của thời điểm đó, cho thấy nhận thức sâu sắc nhất về những ngầm ý ngữ nghĩa học ở những người phát minh ra khái niệm này. Song, nó cũng rọi ánh sáng vào sự đối nghịch động giữa libido tự mê và libido dục tính. Trong đó, libido tự mê là thứ mà các nhà phân tích tìm cách định nghĩa khi họ viện đến các bản năng hoài huỷ, nhất là xung năng chết, để lý giải mối liên hệ thấy rõ giữa libido tự mê và chức năng lạ hoá của cái Tôi, tính hung hăng nó phát ra trong bất cứ mối quan hệ nào với cái khác, ngay cả trong một mối quan hệ bao hàm người Samaria nhân đức nhất[44].

Thật ra, họ [các nhà phân tích] đang đối mặt với tính phủ định hiện sinh, mà hiện thực của nó được tuyên bố mạnh mẽ bởi triết thuyết hiện nay về hữu thể và vô thể.[45]

Song thật không may là triết học nắm lấy tính phủ định chỉ trong giới hạn của một sự độc lập về ý thức, tức là như một trong các tiền đề của nó, kết nối đến các méconnaissance[46] giúp hình thành nên bản ngã, ảo tượng của sự tự trị mà nó phó thác mình. Sự tháo chạy của ý thích này, với mọi thứ nó kéo đến, ở một mức độ khác thường, với việc mượn từ kinh nghiệm tâm phân học, lên đến cực điểm ở ước muốn mang lại một bộ môn tâm phân học hiện sinh.

Ở cực điểm nỗ lực lịch sử của một xã hội không công nhận bất cứ chức năng nào khác của nó ngoài chức năng vị lợi, và trong nỗi lo âu của cá nhân khi đối mặt với hình thức "tập trung"[47] ["concentrational" form] của mối ràng buộc xã hội dường như nổi lên để tôn vinh nỗ lực này, chủ nghĩa hiện sinh buộc phải được đánh giá qua những gì nó giải thích về những bế tắc khách quan phát sinh từ nó; một sự tự do không bao giờ chân thực bằng lúc nó nằm trong những bức tường của nhà tù; một đòi hỏi cho sự gắn kết, bày tỏ sự bất lực của một ý thức thuần tuý trong việc khuất phục bất cứ hoàn cảnh nào; một sự hiện thực hoá mang cái nhìn sa-đích về mối quan hệ dục tính; một nhân cách nhận ra chính nó chỉ bằng cách tự tử; một ý thức của kẻ khác chỉ có thể được thoả mãn nhờ kẻ sát nhân kiểu Hegel.[48]

Các mệnh đề này đối lập với tất cả kinh nghiệm của chúng ta, một khi nó còn dạy chúng ta không nhìn bản ngã như là được đặt vào chínhg giữa hệ thống tri giác-ý thức,[49] hoặc là được tổ chức bởi "nguyên lý tính hiện thực" [reality principle] - nguyên lý vốn là biểu hiện của một định kiến khoa học thù địch nhất với phép biện chứng của tri thức. Thay vào đó, kinh nghiệm cho thấy chúng ta nên bắt đầu từ chức năng của nhận thức sai [function of méconnaissance], thứ phân định đặc tính của bản ngã trong mọi cấu trúc của bản ngã. Điều này đã được Anna Freud trình bày rất sáng sủa. Bởi lẽ, nếu Verneinung[50] đại diện cho hình thức hiển nhiên của chức năng đó, hầu hết hiệu ứng của nó sẽ vẫn chìm âm ỉ miễn là chúng không bị đen đủi soi rọi ở nơi cái ấy (id) phát lộ.

Chúng ta có thể hiểu đặc tính quán tính của sự hình thành cái Tôi, và tìm thấy ở đó định nghĩa rộng mở nhất về chứng loạn thần kinh - cũng như cách sự hấp thu [captation][51] chủ thể bởi hoàn cảnh mang đến cho chúng ta công thức tổng quát nhất về bệnh điên, không chỉ là bệnh điên phía sau bức tường của nhà thương điên, mà cả bệnh điên làm cho thế giới điếc tai bằng âm thanh và cuồng nộ.

Với chúng ta, nỗi khổ của người loạn thần kinh và loạn tâm thần là một huấn thị về những đam mê của tâm hồn, cũng như cán của cái cân tâm phân học cho chúng ta thấy một chỉ dấu về sự làm giảm các đam mê trong xã hội khi chúng ta tính toán mối nguy với toàn thể cộng đồng.

Tại nơi giao nhau giữa tự nhiên và văn hoá này, mặc dù được ngành nhân loại học hiện đại[52] không ngừng săm soi, nhưng chỉ có ngành tâm phân học mới nhận ra nút thắt của sự quy phục tưởng tượng mà tình yêu luôn luôn phải quy hồi, hoặc cắt đứt.

Với một nhiệm vụ như vậy, chúng ta không đặt niềm tin vào lòng vị tha; chúng ta là những người bóc trần tính hung hăng nằm dưới hành động của nhà hoạt động xã hội, nhà duy tâm, nhà mô phạm, và thậm chí nhà cải cách.

Trong cuộc cầu viện từ chủ thể đến chủ thể mà chúng ta duy trì, ngành tâm phân học có thể hộ tống người bệnh đến giới hạn xuất thần của "Mày-là-cái-ấy"[53], nơi anh ta thấy mật mã số mệnh chí tử của anh ta. Song, với vai trò là những nhà chữa bệnh, chúng ta không có quyền năng đưa anh ta tới điểm mà cuộc hành trình thực thụ bắt đầu.

Tân dịch

[1] Các bản dịch Freud luôn Latin hoá các thuật ngữ tiếng Đức der Ich, das Es ("cái tôi" [the I], "cái đó" [the It]) thành “the ego", “the id". Lacan muốn loại bỏ cách diễn dịch xa lạ này và giữ đúng nghĩa đen của chúng. Cái Tôi [the I], tức cái tự ngã, trong thuật ngữ của Lacan, chính là chủ thể.

[2] Viết gọn của “cogito ergo sum", tiếng Latin nghĩa là “Tôi tư duy, bởi vậy tôi tồn tại" của triết gia Pháp René Descartes, đại ý là chúng ta có hiểu biết tuyệt đối về căn tính của mình, bởi việc tư duy bao hàm trong đó người tư duy. Tiểu luận của Lacan chất vấn mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại.

[3] Tiếng Đức, nghĩa là “trải nghiệm: À ha!” của một người nhận ra mình trong gương. Đây là thuật ngữ của nhà tâm lý học Wolfgang Köhler (1887-1967), một trong những nhà sáng lập trường phái tâm lý học Gestalt [hình thái]. Ông được biết đến nhờ các thí nghiệm trên chó và khỉ để nghiên cứu về trí khôn loài vật, và thời điểm thức nhận [moment of insight] khi tâm trí vượt qua được lỗ hổng về tri kiến [cognitive gap].

[4] James Mark Baldwin (1861-1934): nhà tâm lý học thực nghiệm, viết về sự phát triển trong tâm thần của trẻ em.

[5] Đứa bé long tong.

[6] Một hoạt động trong nguyên lý khoái cảm của Freud. Libido, hay id (cái ấy) là phần của con người đi tìm khoái cảm, đặc biệt là khoái cảm tính dục.

[7] Từ này do Lacan sáng tạo ra. Ông cho rằng mọi tri thức đều là hoang tưởng vì được xây dựng dựa trên sự dối trá, áp đặt lên chủ thể từ bên ngoài chủ thể đó, giống như cảm giác hoang tưởng là nhận được giao tiếp từ người ngoài hành tinh.

[8] Identification: theo Freud, đây là phần của bản ngã, ở đó đứa trẻ nghĩ đến mình bằng cách đồng nhất với một người khác - thường là cha nó, nếu là con trai. Theo Lacan, sự đồng nhất hoá đầu tiên không phải với cha, mà với hình ảnh giả trong gương.

[9] Freud dùng thuật ngữ imago [tiếng Latin nghĩa là hình ảnh hay bức tượng] để chỉ bức tranh về một người cha/mẹ trong tâm trí đứa trẻ, vốn là những trải nghiệm trước tiên đến với nó, sau này sẽ trở thành hình mẫu để các mối quan hệ với những đối tượng thương yêu sau đó của đứa trẻ dựa vào (đọc “Về huynh hướng phổ biến dẫn đến sự mất phẩm giá trong không gian tình thương" [On the Universal Tendency to Debasement in the Sphere of Love]). Jung dùng khái niệm này để chỉ nguyên mẫu hướng nội (chẳng hạn Anima) mà cá nhân định dạng mình. Cũng như vậy, Lacan áp dụng thuật ngữ này cho hình ảnh của tự ngã [self].

[10] Từ Latin nghĩa là “không thể nói". Lacan muốn nói, điều này xảy ra trước sự phát triển về ngôn ngữ.

[11] Trong bài luận, chỉ có riêng chỗ này tôi giữ cách dịch từ Ideal-Ich [tức là “je-idéal"] của Freud. [Lacan]. Trong tiếng Anh, cách dùng thường thấy của thuật ngữ này là “Bản ngã lý tưởng" [Ego Ideal] - theo hệ thống thuật ngữ của Freud, nó hình thành một phần cái Siêu ngã [Superego].

[12] Bởi bản ngã luôn được xây dựng trong mối quan hệ với một sự hư cấu.

[13] Trong toán học, tiệm cận [asymptote] là đường thẳng mà một đường công tiến gần tới nhưng không bao giờ tiếp xúc. Lacan muốn nói rằng cảm thức Tưởng tượng của bản thể được tạo ra trong Giai đoạn Gương sẽ tiến gần tới nhưng không bao giờ đồng nhất với Bản ngã, vốn được hình thành sau đó qua cuộc đấu tranh Oedipus [Oedipal struggle], được nhắc đến sau đó cũng trong câu này.

[14] Đưa hai khái niệm đối chọi lại với nhau.

[15] Tiếng Đức, nghĩa là mẫu hình [pattern], hình thức [form] không thể chia cắt, một tổng thể hợp nhất.

[16] pregnancy: xuất pháp từ 'pregnance' trong tiếng Pháp nghĩa là ái lực, tiềm lực.

[17] Xem Claude Lévi-Strauss, Nhân loại học cấu trúc, chương X. [Lacan] Lacan muốn nói đến chương “Tính hiệu quả của các biểu trưng" [The Effectiveness of Symbols] trong đó Lévi-Strauss đưa ra so sánh tâm phân học với cách mà một pháp sư [shaman], dẫn dắt một bệnh nhân trải qua lại nguyên khởi bệnh tình của cô ta, nhằm chữa trị cô khỏi chứng bệnh đó.

[18] Tức sự đồng nhất hóa với cùng cơ thể, đối lập với "hình thái dị dạng" [heteromorphic] là đồng nhất với một cơ thể/hình thái khác.

[19] Ý nghĩa cái đẹp ở đây ý nói: chúng ta nhìn thấy cái đẹp trong những thứ biểu hiện các đặc tính giống những gì loài người chúng ta nhìn thấy trong hình ảnh của chính mình.

[20] Dẫn đến nảy sinh khao khát tính dục.

[21] Trường hợp bắt chước trong thú vật: thú vật tìm kiếm sự tái lập các đặc tính của môi trường xung quanh (như trường hợp con tắc kè), không phải để nguỵ trang chống lại thú ăn thịt mà bởi sự phát triển của ý niệm về bản thân gắn chặt với việc làm chủ không gian hữu hình xung quanh con vật đó.

[22] "Trường phái xã hội học" mà Caillois tuyệt giao chính là phái của những nhà siêu thực, dẫn dắt bởi André Breton, người mang mục tiêu tối thượng là kháng lại chủ nghĩa Phát xít bằng sự giải phóng tâm trí, đạt được nhờ sự ngoại hiện hoá [externalization] các hình ảnh ra khỏi vô thức cá nhân.

[23] Lacan muốn nói đến ở đây việc một số nhiễu loạn tâm lý học [psychological disturbance] chọn hình thức triệu chứng [symptomatic form] của một cảm thức biến vị [sense of dislocation] đáng sợ, không biết mình ở đâu, bởi họ đã biến mất vào trong không gian xung quanh mình, giống như loài vật (chẳng hạn tắc kè hoa, bạch tuộc) có thể thay đổi bề ngoài của chúng để nguỵ trang. Trong "Bắt chước và suy tâm thần truyền thuyết" [Mimicry and Legendary Psychasthenia] (Minatoure 7 [1935]), nhà nhân loại học Roger Caillois (1913-1978) viết: "từ lúc nó không còn là một quá trình tự vệ, bắt chước chỉ có thể là [một nhiễu loạn trong nhận thức về không gian]... Không nghi ngờ gì, nhận thức về thời gian là một hiện tượng phức tạp... Cảm giác về cá tính, được xem như cảm giác của một thực thể về sự tách biệt của nó với môi trường xung quanh, của mối liên hệ giữa ý thức và một điểm riêng biệt trong không gian, không thể bị đào bới nghiêm túc nếu rơi vào các điều kiện này; người ta bước vào lĩnh vực tâm lý của suy tâm thần, cụ thể hơn nữa là suy tâm thần truyền thuyết, nếu chúng ta đồng ý dùng tên này cho sự nhiễu loạn trong các mối quan hệ bên trên giữa cá tính và không gian... [Những người tâm thần phân liệt là] các tâm hồn bị truất hữu [mà với họ] không gian dường như là một ái lực háu ăn. Không gian truy cầu chúng, bao quanh chúng, tiêu hoá chúng... Để làm sao thay thế chúng... Anh ta/Nó cố nhìn vào mình từ bất cứ điểm nào trong không gian. Anh ta thấy mình trở thành không gian, không gian tăm tối nơi không thể đặt bất cứ gì vào... Tất cả biểu hiện này rọi ánh sáng vào một quá trình đơn nhất: giải-cá nhân hoá bằng cách đồng hoá vào không gian, chẳng hạn, điều mà sự bắt chước đạt được trong hình thái ở những loài vật nhất định. Thứ ma quái nắm giữ đêm buông và tăm tối (người ta có thể thực sự gọi tên nó mà không cần dùng ngôn ngữ bạo lực), nỗi sợ hãi bóng tối, có lẽ cũng có căn nguyên ở hiểm hoạ mà nó đặt ra sự đối lập giữa thực thể và môi trường".

[24] Xem "Tính ăn mòn trong tâm phân học" [Aggressivity in Psychoanalysis], tr. 8 và Écrits, tr. 180. [Lacan]

[25] Tiếng Đức: Innenwelt là thế giới bên trong, Umwelt là thế giới bên ngoài.

[26] dehiscence, tức sự nẻ ra của vỏ hạt trong thực vật, nghĩa bóng ám chỉ sự tách vỡ, đoạn tuyệt.

[27] Sự chia cắt tự nhiên.

[28] Một phần của hệ thống thần kinh trung tâm bao hàm tron chuyển động tự giác.

[29] specific prematurity of birth, ý nói con người được sinh ra trước khi họ sẵn sàng đối mặt với thế giới.

[30] Hệ thống thần kinh.

[31] Lacan nói đến các thí nghiệm mổ cho phép các nhà thần kinh học lập bản đồ các khu vực của vỏ não tương ứng với các bộ phận khác nhau của cơ thể con người.

[32] Ghép từ hai gốc từ Hy Lạp nghĩa là "thẳng" và "đứa trẻ". Lacan đề xuất rằng giai đoạn gương cho phép đứa trẻ phát triển một cách phù hợp.

[33] Luận điểm của Lacan là: "phép thử" hiện thực, mà bản ngã cố để xác định cái gì là thích hợp với cái ở "ngoài kia", bao hàm một kỳ tích bất khả (ở đây chỉ phép cầu phương hay "hoá viên vi phương": biến tròn thành vuông)

[34] Nhìn từ bên ngoài.

[35] Hoạ sỹ người Flanders, tên khai sinh Jeroen van Aken (1450-1516). Các tác phẩm của ông, như "Địa ngục" [Hell] trong Khu vườn của những khoái cảm trần tục [The Garden of Earthly Delights], chứa đựng sự tưởng tượng siêu thực thể hiện trong những phần cơ thể sinh động - đây là ý mà Lacan ám chỉ.

[36] Trong tiếng Pháp, stade vừa là sân vận động vừa là giai đoạn (Le stade du mirroir).

[37] Lacan đang liệt kê các hình thức phòng vệ bản ngã [ego defense].

[38] Bản ngã và các cơ cấu phòng vệ [Ego and the Mechanisms of Defense] (1935) của Anna Freud (1985-1982).

[39] Cái Tôi phản chiếu [specular "I"] ý nói sự đồng nhất hoá qua gương của cái tôi; còn cái Tôi xã hội [the social "I"] chỉ sự đồng nhất hoá của cái tôi xảy ra trong địa hạt của những triển vọng và quy chuẩn xã hội.

[40] Nhà tâm lý học Charlotte Bühler (1893-1974) đã quan sát và dùng khái niệm này gọi hành vi một đứa trẻ không phân biệt được giữa trải nghiệm của chính nó và của một người khác (chẳng hạn khóc khi một đứa trẻ khác đau).

[41] Giai đoạn gương kết thúc, ít nhất theo nghĩa kỹ thuật, khi [tính] xã hội nắm quyền kiểm soát cá thể.

[42] Lacan muốn nói rằng cái "Tôi" được hình thành bởi giai đoạn gương luôn vốn là một cái Khác (được nhìn từ bên ngoài như một toàn thể riêng biệt), và mọi cái Khác khác qua quá trình phát triển thông thường, bao gồm cả cuộc đấu tranh ở giai đoạn Cha và Mẹ của phức cảm Oedipus, cũng thành hình nhờ vào sự hình thành này.

[43] Khái niệm Freud để chỉ toàn bộ sự chú ý của đứa trẻ vào những khoái cảm và nhu cầu của nó. Sự tự mê chính yếu là lành mạnh, nhưng những ai không bỏ được tính này (chứng rối loạn cá tính tự ái) sẽ hướng lượng libido của mình chỉ riêng vào sự hiện diện của chính họ.

[44] Liên quan đến dụ ngôn về người Samaria nhân đức (Luke 10:30-37), trong đó người Samaria cứu giúp một người Khác, một dân Israelite. Lacan cho rằng động lực cho lòng vị tha chính là tính tự mê, theo nghĩa nó thúc đẩy một cảm thức được phóng đại về bản thân.

[45] Trích nhan đề tác phẩm L'Être et le néant của Jean-Paul Sartre, Lacan đi đến phê bình triết học hiện sinh, quan niệm rằng một bản thân luôn thể hiện cho chính nó, là luôn tự ý thức. (Trong khi trái lại, Lacan vẫn luôn cho rằng cái "bản thân" đơn ngôi mà chúng ta biết là một sản phẩm Tưởng tượng của Giai đoạn Gương.)

[46] Nhận thức sai (ở đây, nói về hình ảnh trong gương với cái "tôi").

[47] "Concentrationnaire", một tính từ xuất phát từ sau Thế chiến thứ hai (bài báo này được viết năm 1949), mô tả đời sống trong trại tập trung. Nhờ một số ngòi bút, nó được mở rộng ra, có thể dùng để chỉ nhiều khía cạnh của đời sống "hiện đại".

[48] Đoạn văn này trình bày một chuỗi các phê phán chủ nghĩa hiện sinh, ám chỉ đến lần lượt truyện "Bức tường" [Le Mur], tiểu thuyết Buồn nôn của Jean-Paul Sartre, đến Kỷ nguyên lý trí [L'Age de raison], tập đầu tiên trong bộ ba Những con đường đến tự do [Les Chemins de la liberté] của ông, rồi Kẻ xa lạ [L'Etranger] của Albert Camus (trong đó nhân vật chính sát hại một người Ả Rập đến chứng tỏ sự tự do hiện sinh của anh ta).

[49] Câu của Freud nói về tâm trí hữu thức, vốn chỉ là một phần, và không phải là phần quan trọng nhất đối với hoạt động chức năng của tâm thần.

[50] Tiếng Đức nghĩa là sự từ chối (một trong các cơ chế phòng vệ bản ngã của Freud).

[51] Nghĩa đen là sự "chiếm đoạt" [seizure]. Sự hấp thu "đối tượng nhờ hoàn cảnh" ý nói tính mỏng manh của cái "Tôi" - cũng như với người tâm thần phân liệt trong mô tả của Caillois, những người bị mờ vào không gian xung quanh. Song, Lacan muốn ám chỉ rằng các xã hội cũng có thể trở nên loạn tinh thần theo cách đó, khi sát hại những người khác qua một quá trình "làm giảm những đam mê".

[52] Nhà nhân loại học Claude Lévi-Strauss đã cho rằng sự cấm kỵ loạn luân (và vì thế cuộc đấu tranh Oedipus) nằm tại ranh giới của tự nhiên và văn hoá.

[53] Thou art that/Tu es cela: Bản chất hiện hữu của một thực thể. Lacan ám chỉ đến cái đầu lâu thường ở cận cảnh trong những bức tranh bàn về sắc đẹp đồng nội thôn dã; "thou art that" là điều cái đầu lâu nói với người xem.

No comments:

Post a Comment