![]() |
| Thứ âm nhạc tàn khốc đến man dại của Stravinsky |
Nếu như đã quen với những đoạn nhạc dạo đầu của âm nhạc Stravinsky, người ta sẽ không mấy ngạc nhiên trước phản ứng của khán giả đối với vở ba-lê do Vaslav Nijinsky biên đạo và đoàn Ballets Russes của ông bầu Serge Diaghilev thể hiện. Khúc solo kèn bassoon dạo đầu có thể được xem là khúc mở màn quái gở nhất, quãng âm cao nhất và táo bạo nhất trong lịch sử hòa nhạc. “Thế rồi,” Stravinsky nói với Eric Walter White, người viết tiểu sử của mình, “đến lúc cánh gà mở ra cho một nhóm trinh nữ bím tóc dài, vòng chân nhảy, cơn bão mới thực sự bùng nổ.”
Đó là phân đoạn Điệu nhảy thần bí của các trinh nữ, cũng là lúc phần nhạc bắt đầu mở ra những giai điệu nghịch tai đến sửng sốt. Theo Stravinsky, khi ấy “những tiếng hô lớn Ta gueule (im đi) vang lên rầm rộ sau lưng tôi. Tôi rời khỏi khán phòng trong cơn thịnh nộ của khán giả. Chưa bao giờ tôi thấy lại cảnh người ta giận dữ như vậy.” Suốt phần còn lại của buổi diễn, Stravinsky đứng sau cánh gà, nắm lấy đuôi áo Nijinsky trong khi vị biên đạo múa hô to chỉ dẫn cho các diễn viên của mình trong tiếng ầm ĩ náo loạn.
Vậy điều gì đã diễn ra trong đêm đó? Phải chăng cuộc hỗn loạn đó là do người ta thực sự choáng váng trước sự miêu tả vừa nguyên sơ vừa hiện đại của Stravinsky về một nghi thức lễ bái của người Nga cổ cho các mùa trong năm? Hay đó là vụ kích động được sắp đặt trước, một scandal có chủ ý mà nhiều năm sau trở thành một huyền thoại trong lịch sử nghệ thuật? Và liệu Lễ bái xuân có thực sự là cuộc cách mạng trong âm nhạc, một bước nhảy lớn đưa người nghe sang một địa hạt chưa từng được biết tới, đồng thời tạo cảm hứng sáng tác cho các nhà soạn nhạc sau này?
Sau Lễ bái xuân, chưa có một tác phẩm âm nhạc nào gây được ảnh hưởng như thế trong thế kỷ 20. Từ nhà soạn nhạc Elliott Carter, Steve Riech (người Mỹ) đến Pierre Boulez (Pháp), Thomas Adès (Anh), các nghệ sỹ hậu thế sẽ không thể tạo nên lịch sử âm nhạc hiện đại nếu không lấy cảm hứng lấy từ vở ba-lê của Stravinsky. Nhiều năm sau vở diễn, Stravinsky cho biết ông giống như rơi vào trạng thái “nhập định” trong lúc sáng tác, đưa ông đến những phút giây “hốt nhiên đại ngộ”. Ông nghe thấy âm vang của số phận xảy đến với cô gái tội nghiệp nhảy múa đến chết trong đoạn kết cao trào Vũ điệu hy sinh: “Lễ bái xuân chịu ảnh hưởng rất ít từ truyền thống hay bất cứ lý thuyết nào. Tôi chỉ dùng đôi tai mình. Tôi lắng nghe và viết ra những gì mình nghe được. Tôi chính là huyết mạch nơi tác phẩm chảy qua.”
Có lẽ sẽ là cường điệu khi bảo rằng toàn bộ vụ scandal này được sắp xếp trước, nhưng làm sao lý giải việc khán giả phản ứng ngay từ đầu trước một vở diễn mà họ còn chưa nghe xong một cách tử tế? Một năm sau, khi phần nhạc được công diễn riêng lần đầu ở Paris tại một buổi hòa nhạc, người ta lại tung hô và Stravinsky đã gặt hái thành công với lượng người hâm mộ đáng kể.
Dường như thứ thực sự gây sốc khán giả là cách biên đạo của Nijinsky khi cố ý phơi bày vẻ xấu xí và thô kệch của người Nga cổ, qua hình ảnh những trinh nữ chân vòng kiềng, bím tóc cao mà Stravinsky nhắc tới. Điệu múa đã đụng chạm đến mỹ cảm và quan niệm truyền thống của người xem về một vở ba-lê – phần trình diễn, có thể nói, còn “chướng” hơn cả phần nhạc. Ở buổi diễn ra mắt, phần nhạc với tư duy cấp tiến của Stravinsky khó có thể nói là lôi cuốn người xem, mặc dù trước đoạn cao trào, tiếng la ó đã dịu bớt. Stravinsky đã khen ngợi cái đầu lạnh của Monteux, gọi người chỉ huy này là “điềm tĩnh và chai lì như một con cá sấu”. Ông hoàn toàn bất ngờ khi Monteux đã đưa dàn nhạc đến tận phút cuối.
Tính mộc mạc trong Lễ bái xuân vốn dĩ là một nghịch lý: vừa cho thấy viễn cảnh khủng khiếp về sự tàn nhẫn của tự nhiên, vừa bộc lộ tính vô nhân của thời đại máy móc. Số phận của cô gái trong Vũ điệu hy sinh làm người ta rùng mình. Cô bị bao vây trong một cơn lốc vần vũ của giai điệu và cuối cùng, một hợp âm đơn nhất đã giết chết cô. Đến tận hôm nay, thứ âm nhạc ấy vẫn còn nguyên tính đột phá như một trăm năm trước.
Tuy vở ba-lê mang đầy tính hiện đại và Stravinsky khẳng định rằng toàn bộ đều xuất phát từ “những gì tôi nghe được” (chính vì vậy mà sau này nhà soạn nhạc Ý Puccini gọi đây là “tác phẩm của một gã khùng”), Lễ bái xuân vẫn chịu ảnh hưởng từ những giai điệu truyền thống. Nhà nghiên cứu âm nhạc người Mỹ Richard Taruskin cho biết, rất nhiều giai điệu trong tác phẩm đến từ các điệu folk, chẳng hạn đoạn solo kèn bassoon vốn xuất phát từ một bản nhạc đám cưới của người Lithuania.
Sinh năm 1882 ở Saint Petersburg, bố ông là nghệ sỹ hát giọng nam trầm ở Nhà hát Mariinsky, Stravinsky đã kế thừa xuất sắc tư duy âm nhạc được bắt đầu từ thập niên 1830 với Mikhail Glinka. Glinka được xem như là cha đẻ của nhạc cổ điển Nga và là người tạo cảm hứng lớn cho Stravinsky. Ngay từ hai tác phẩm ba-lê trước của Stravinsky là Con chim lửa và Petrushka đã phảng phất xuất hiện sự phá cách, và khiến người ta liên tưởng đến thầy ông là Rimsky-Korsakov hay ngay cả Tchaikovsky. Những âm thanh nghịch tai như sẵn sàng “chọi” nhau, nhưng nếu để ý hơn, chúng đều là phiên bản khác của các gam và hòa âm mà Rimsky-Korsakov, Mussorgsky và Debussy đều đã khám phá. Còn nhịp điệu trúc trắc là họ hàng xa của các điệu folk.
Vở ba-lê Lễ bái xuân có phần nhạc được xếp vào hàng phức tạp nhất trong lịch sử. Đề tài nhân văn của nó nhắc chúng ta rằng dù cho con người có tiến bộ thế nào, chúng ta vẫn không thể chối bỏ căn tính của mình, từ xuất phát điểm là các cá nhân trong bộ tộc. Tác phẩm soi rọi cho ta thấy quá khứ và hiện tại, chúng ta đến từ đâu và hướng đến đâu. Một vở diễn tốt chỉ làm chúng ta thẫn thờ, nhưng một vở diễn vĩ đại sẽ khiến chúng ta có cảm giác thăng hoa, dù là trong thứ âm nhạc tàn khốc đến man dại của Stravinsky.
Gia Vũ (Tổng hợp)


No comments:
Post a Comment