[Bản có sửa chữa. Bản cũ đăng trên Da màu cách đây hai năm. Xem thêm bài Tại sao đọc tác phẩm cổ điển.]
Sự
đúng đắn và sai lầm trong những cách hiểu mang tính chính trị về văn chương
Khi tôi nhận lời mời đến nói
chuyện tại cuộc hội thảo của quý vị, trong đầu tôi xuất hiện trước tiên một suy nghĩ vẫn
luôn nảy ra trong những dịp như thế này: tôi cố nhớ xem gần đây mình có viết gì
về văn chương và chính trị hay không, một bài báo cho một trong rất nhiều cuộc
tranh luận về chủ đề này chẳng hạn. Và tôi nhận ra là mình chưa có gì trọn vẹn
cả. Mấy năm nay tôi đã không viết hay nói bất cứ gì về chủ đề này.
Bây giờ nghĩ lại tôi mới thấy
điều này thật lạ. Thời tôi còn trẻ, từ 1945 cho đến suốt thập niên năm mươi và
sau đó, những vấn đề nổi trội khi ấy đều dính líu đến mối quan hệ giữa nhà văn
và chính trị. Thậm chí tôi có thể nói rằng mọi cuộc thảo luận đều xoay quanh điểm
này. Thế hệ của tôi có thể được xem là thế hệ đã bắt đầu có dính líu đến văn
chương và chính trị cùng một lúc.
Trái lại, tuy trong những năm gần
đây tôi thường quan tâm xem chuyện chính trị đang diễn ra thế nào và văn chương
đang diễn ra thế nào, nhưng khi nghĩ về chính trị tôi chỉ nghĩ về chính trị, và
khi nghĩ về văn chương tôi chỉ nghĩ về văn chương. Bây giờ khi đương đầu với
hai địa hạt đều có vấn đề này, tôi mang hai cảm giác khá là tách bạch, và cả
hai đều là cảm giác trống rỗng: về việc thiếu một dự phóng chính trị để tin vào
và thiếu một dự phóng văn chương để tin vào.
Nhưng ở một mức độ sâu hơn tôi
nhận thức được rằng nút thắt mối quan hệ giữa chính trị và văn chương mà chúng
tôi vướng phải trước đây vẫn chưa được tháo gỡ; các đầu dây xơ sờn và xoắn bện của
nó vẫn còn rối như tơ vò.
Những gì xảy ra trong những năm
sáu mươi đã làm thay đổi sâu sắc nhiều khái niệm chúng tôi từng đụng đến, mặc dù
bây giờ chúng ta vẫn gọi chúng bằng cùng những cái tên ấy. Chúng ta vẫn chưa biết
liệu tất cả thay đổi này sẽ có tác động tối hậu nào cho tương lai của xã hội mình,
nhưng chúng ta biết rằng đã có một cuộc cách mạng của trí óc, một bước ngoặt về
tri thức.
Nếu phải đưa ra một định nghĩa
ngắn gọn cho quá trình này, chúng ta có thể nói rằng quan niệm coi con người
như là chủ thể của lịch sử đã kết thúc - chúng ta vẫn phải gọi kẻ đối lập đã phế
truất con người là con người, mặc dù con người đó đã rất khác trước kia. Đó
chính là chủng người xuất hiện “hàng đàn” đang tăng trưởng theo câp số mũ trên
khắp hành tinh; sự bùng nổ các thành phố lớn; tính bất khả thiết trị[1]
của xã hội và nền kinh tế ở bất cứ hệ thống nào; sự cáo chung của thuyết dĩ Âu
vi trung ở cả mặt kinh tế và ý hệ; và việc đòi toàn quyền cho những người vô
gia cư, kẻ thống khổ, người bị bỏ quên và kẻ câm điếc[2].
Mọi hạn định, phạm trù và phản đề từng được chúng ta dùng để định nghĩa, hoạch
định, và phân cấp thế giới đã được mang ra chất vấn. Và không chỉ là các hạn định,
phạm trù và phản đề gắn chặt nhất với những giá trị lịch sử, mà cả những thứ tưởng
chừng như là các phạm trù nhân loại học bền vững – lý trí và huyền thoại, việc làm
và sự tồn tại, giới nam và giới nữ - và cả những cặp đối lập của của các tổ hợp
từ sơ cấp nhất - khẳng định và phủ định, bên trên và bên dưới, chủ thể và khách
thể.
Trong mấy năm qua, những bận
tâm của tôi đến chính trị và văn chương hướng vào sự bất tương xứng của chúng với
các nhiệm vụ mà những thay đổi trong não trạng của chúng ta đặt ra.
Có lẽ tôi nên bắt đầu bằng việc
đưa ra một định nghĩa tốt hơn về tình thế, đó là trong một tiểu vũ trụ có tính
nội địa là nền văn chương Ý, để lý giải xem thập niên sáu mươi đã mang đến cho
chúng ta những tin tức nào mới mẻ.
Trong những năm năm mươi, văn
chương Ý, và tiểu thuyết nói riêng, mong mỏi là đại diện cho lương thức xã hội
và ý thức đạo đức của nước Ý lúc bấy giờ. Trong những năm sáu mươi, đòi hỏi này
bị tấn công trên hai mặt trận. Trên mặt trận hình thức văn chương - hay đúng
hơn, một mặt trận không chỉ về hình thức mà còn mang tính nhận thức luận và cánh
chung luận[3]
- chính giới tiền phong mới xuất hiện đã tấn công và truy vấn văn học Ý, buộc tội
là nó cảm tính, cổ hủ và ủy mị một cách đạo đức giả. Chỉ sự cắt đứt dứt khoát
trong ngôn ngữ, không gian và thời gian của hư cấu mới có thể là đại diện cho đời
sống lúc đó và xua tan những ảo tưởng.
Cùng lúc đó, trong hàng ngũ phê
bình dấn thân về chính trị, các nhà phê bình cấp tiến nhất đã tấn công và xóa bỏ
đòi hỏi của văn chương dấn thân về tính tiêu biểu, và buộc tội nó theo chủ
nghĩa dân túy. Do đó, cũng ở mặt trận này, đã có sự chuẩn bị nền móng cho sự trả
đũa của văn học tiền phong, hay ít nhất là của văn chương phủ định – tức là, chuẩn
bị nền móng cho một lối suy nghĩ trong văn chương, rằng vấn đề không phải là đưa
ra những lời rao giảng tích cực, mà đơn thuần là đưa ra một chỉ dẫn cho chỗ chúng
ta đang đứng.
Cùng với hai mũi tấn công này,
bây giờ tôi phải đề cập đến cái thứ ba, và nó cũng quan trọng không kém. Hậu
phương văn hóa của văn chương Ý đang trải qua một cuộc thay đổi toàn diện. Ngôn
ngữ học, lý thuyết thông tin, xã hội học về truyền thông đại chúng, dân tộc học
và nhân học, nghiên cứu mang tính cấu trúc về huyền thoại, ký hiệu học, một ứng
dụng mới về tâm phân học, một ứng dụng mới về chủ nghĩa Marx: tất tật trở thành
các công cụ thường xuyên được dùng để phá bỏ bất cứ đối tượng văn học nào và đập
vỡ nó thành từng bộ phận.
Tôi tin rằng vào lúc đó văn
chương đã nhận ra nó ở trong một tình thế hứa hẹn hơn bao giờ hết. Những hiểu lầm
to lớn từng chi phối các cuộc tranh luận trong những năm hậu chiến đã bị gạt bỏ.
Sự phá bỏ tác phẩm văn học có thể mở ra lối đi dẫn đến một đánh giá mới và một kết
cấu mới. Và kết quả là gì? Chẳng có gì hết, hay nói đúng hơn, trái ngược với những
gì được trông đợi. Điều này có nguyên nhân từ cả bên trong lẫn bên ngoài dòng
chảy văn học.
Chủ nghĩa cấp tiến mới về chính
trị của sinh viên trong năm 1968 được đánh dấu ở Ý bằng một sự chối bỏ văn
chương. Người ta không đề xướng một văn chương của phủ định, mà là sự phủ định văn
chương. Ban đầu, văn chương bị buộc tội là lãng phí thời gian so với một thứ có
ý nghĩa lúc đó: hành động. Việc sùng bái hành động trước tiên và trên hết là một
huyền thoại văn học đã cũ, nhưng điều này được hiểu ra - hoặc đang được hiểu ra
- rất chậm chạp.
Tôi
muốn nói rằng thái độ này không hoàn toàn sai lầm. Nó đồng
nghĩa với chối bỏ một thứ nhạt nhẽo được gọi là văn chương xã hội, chối bỏ một
khái niệm cứng đầu là nhà văn dấn thân. Và bởi vậy, bằng cách nào đó nó đưa
chúng ta đến gần một đánh giá chính xác chức năng xã hội của văn chương, còn chính
xác hơn bất cứ sự sùng bái văn chương truyền thống đần độn nào từng làm được.
Nhưng - và tôi đang nói ở thì
quá khứ bởi tôi tin rằng có thứ gì đó đã thay đổi - đó cũng là dấu hiệu của sự
tự giới hạn, của tầm nhìn hẹp, của việc không nhận ra tính phức tạp của sự vật.
Khi các chính trị gia và những
người để tâm đến chính trị quá chú ý đến văn chương, đó là một dấu hiệu xấu - dấu
hiệu xấu với chính văn chương, bởi đó là khi văn chương lâm nguy nhất. Nhưng
khi họ không muốn nghe đến nó nữa, thì đó cũng là một dấu hiệu xấu khác, và điều
này thường xảy ra với các nhà chính trị tư sản ấu trĩ nhất cũng như các nhà
cách mạng về ý hệ triệt để nhất. Đây là dấu hiệu xấu cho chính họ trước tiên, bởi họ đang chứng tỏ rằng
mình e sợ bất cứ chức năng nào của ngôn ngữ khiến tính xác thực trong ngôn ngữ
của chính họ trở nên bấp bênh.
Trong bất cứ trường hợp nào, giới
tiền phong văn học và giới tiền phong chính trị cũng không thể gặp nhau. Tiền
phong văn học chịu tổn thất từ sự mất mát lượng độc giả tiềm năng mà nó hướng tới,
và các nhà văn bị đánh bại của thập niên năm mươi nhanh chóng trượt trở về ghế
của họ. Kể cả trong giả thiết xấu nhất của các nhà văn tồi, hay có lợi nhất của
các nhà văn truyền thống, các chỗ ngồi trong văn chương không thể để trống lâu.
Những năm gần đây, mọi quan điểm
chính trị hễ cứ đơn giản hóa quá mức là thất bại, và chúng ta đều nhận thức rõ
hơn tính phức tạp của xã hội mình đang sống, mặc dù không ai có thể nói rằng
mình nắm trong tay một giải pháp. Tình thế của nước Ý hôm nay một mặt là tình
trạng tha hóa và biến chất trong khung định chế của chúng ta, và mặt khác là sự
trưởng thành của số đông và ý thức đi tìm đường lối thiết trị chính chúng ta.
Văn chương có vị trí gì trong một
tình thế như vậy? Tôi phải thừa nhận rằng tình thế của văn chương cũng tù mù
không kém gì tình thế của chính trị. Tiểu thuyết Ý ngày càng có nhiều độc giả
trong nước, đặc biệt là khi nó dính dáng đến các vấn đề chính trị hay lịch sử gần
đây - không phải theo cách thức mô phạm của ba mươi năm trước, mà như một tập hợp
các vấn đề. Mặt khác, truyền thông đại chúng tạo áp lực thôi thúc nhà văn viết bài
cho các báo, tham gia thảo luận bàn tròn trên truyền hình, đưa ý kiến về bất cứ
thứ gì anh ta có thể biết hoặc không biết. Nhà văn được trao cơ hội để lấp khoảng
trống bị bỏ lại từ bất cứ cuộc thảo luận chính trị có nghĩa lý nào. Nhưng nhiệm
vụ này hóa ra quá dễ dàng (khi đưa ra tổng quát hóa mà không cần có bất cứ trách
nhiệm nào trong thực tiễn), trong khi đúng ra nó là nhiệm vụ khó khăn nhất một
nhà văn có thể đảm nhiệm. Ngôn ngữ chính trị càng ủy mị và trừu tượng bao
nhiêu, chúng ta càng có ý thức lớn hơn về một đòi hỏi ngầm đối với một thứ ngôn
ngữ mới thẳng thắn và mang tính cá nhân hơn. Và kích động hơn. Kích động là chức
năng quần chúng được đòi hỏi nhiều nhất ở Ý vào lúc này. Cuộc đời và cái chết,
và cuộc đời sau khi chết của Pasolini đã phong thánh cho vai trò kích động của
nhà văn.
Có một sai sót cơ bản trong mọi
chuyện này. Chúng ta đòi nhà văn đảm bảo sự sống sót của cái gọi là con người trong một thế giới nơi mọi thứ
đều phi nhân tính; đảm bảo sự sống sót của diễn ngôn con người để an ủi chúng ta về sự mất mát nhân tính trong mọi diễn
ngôn và mối quan hệ khác. Và chúng ta cắt nghĩa con người là gì? Luôn là cái gì đó hay thay đổi, cảm tính, chân thật
và không hề nghiêm khắc. Rất khó tìm thấy ai đó tin vào tính nghiêm khắc của văn
chương, rằng nó vượt lên và chống lại tính nghiêm khắc giả tạo của ngôn ngữ
đang vận hành thế giới hôm nay.
Giải Nobel năm nay [1975 - ND] được
trao cho Eugenio Montale, nhưng bây giờ không mấy ai nhớ được rằng điểm mạnh của
thơ ông cốt ở chỗ giữ cho giọng thật thấp, không nhấn mạnh bất cứ gì, dùng giọng
điệu vừa phải và nghi ngại. Đó chính là lý do có nhiều người đọc thơ ông, và sự
hiện diện của ông đã có ảnh hưởng sâu sắc đến ba thế hệ người đọc. Đây là cách văn
chương đào dòng chảy của nó đến phía trước; “hiệu lực”, hay “sức mạnh” của nó,
giả sử có tồn tại, là thuộc dạng này.
Nhưng xã hội hôm nay đòi hỏi
nhà văn phải nâng cao giọng nếu muốn mình được nghe, phải đề xướng các ý tưởng
sẽ có tác động lên công chúng, đẩy tất cả phản ứng có tính bản năng của nhà văn
lên mức cực đoan. Nhưng ngay cả những tuyên bố giật gân và bùng nổ nhất cũng chỉ
nhận được thái độ dửng dưng của người đọc. Mọi thứ đều như gió mây tan. Mọi đón
nhận cùng lắm là cái lắc đầu như khi người ta đứng trước một thằng bé ngỗ nghịch.
Mọi người đều biết rằng ngôn từ chỉ là ngôn từ và không gây ra chút mài xát nào
lên thế giới quanh ta: chúng không bao hàm mối nguy nào cho cả người đọc và người
viết. Trong biển cả ngôn từ, trên giấy in hay được phát sóng, những câu chữ của
nhà thơ hay nhà văn đều mất hút.
Đây là nghịch lý về sức mạnh văn
chương: dường như phải bị ngược đãi nó mới cho thấy sức mạnh thực thụ, thẩm quyền
thách thức của nó, còn trong xã hội dễ dãi của chúng ta nó dường như chỉ được
dùng để tạo ra sự vừa ý tức thời đối lập với sự thao túng nói chung của ngôn từ.
(Thế nhưng liệu chúng ta có nên bực tức khi than phiền về điều này? Hay Chúa cũng
thấy rằng ngay cả những kẻ độc tài cũng nhận ra phương pháp tốt nhất để khỏi vướng
bận vào các mối nguy của ngôn ngữ viết là coi như nó không có giá trị gì cả!)
Trước tiên, chúng ta phải nhớ rằng
ở bất cứ đâu nhà văn nào bị ngược đãi, thì không chỉ có văn chương bị ngược
đãi, mà nhiều hình thức tranh luận và suy tư khác cũng bị cấm đoán (mà trước
tiên là suy tưởng chính trị). Văn chương hư cấu, thơ ca và phê bình văn học ở
những nước đó đạt được tính nặng[4]
đặc thù về chính trị, miễn là chúng trao tiếng nói cho bất cứ ai bị tước đi tiếng
nói. Chúng ta, những người sống trong nền tự do văn chương, đều biết nền tự do
này hàm ý một xã hội đang tiến bộ, trong đó có nhiều thứ đang thay đổi (còn tốt
hơn hay xấu đi là một chuyện khác); kể cả trong trường hợp này, vấn đề cần đặt
ra vẫn là mối quan hệ giữa thông điệp văn chương và xã hội, hay nói đúng hơn, giữa
thông điệp đó và việc tạo thành khả dĩ một xã hội để tiếp nhận nó. Đây mới là mối
liên hệ đáng lưu tâm, chứ không phải mối liên hệ với cấp thẩm quyền chính trị, khi
mà lúc này những người đó trong chính phủ, dù trong chế độ dân chủ hay các
chính thể toàn trị hữu hay tả, đều không thể nói là mình có toàn quyền nắm dây
cương của xã hội. Văn chương là một trong các công cụ tự nhận thức của xã hội -
chắc chắn không phải duy nhất, nhưng là một công cụ cốt yếu, bởi các nguồn gốc
của nó liên quan đến nguồn gốc của nhiều dạng tri thức khác nhau, các quy tắc,
các hình thức khác nhau của tư duy phản biện.
Nói tóm lại, tôi cho rằng có
hai cách nghĩ sai lầm về chức năng chính trị khả dĩ của văn chương. Một là
tuyên bố rằng văn chương nên lên tiếng cho một chân lý vốn đã được sở hữu bởi chính
trị; tức là, tin rằng sự tổng gộp các giá trị chính trị mới là cái chủ yếu, còn
văn chương buộc phải tự thích nghi. Quan điểm này bao hàm quan niệm coi văn
chương là vật trang trí và thừa thãi, nhưng nó cũng bao hàm quan niệm coi chính
trị là đứng yên và tự mãn: ý tưởng đó mới thật là thảm họa. Tôi nghĩ rằng chức
năng giảng huấn đó của chính trị chỉ có thể được tưởng tượng ở thang độ văn
chương tồi và chính trị tồi.
Một cách nghĩ sai lầm khác là
xem văn chương như chỗ phân loại những cảm tính muôn thuở của con người, như là
chân lý của thứ ngôn ngữ con người mà chính trị muốn lờ đi, và bởi vậy cứ phải được
nhắc lại liên tục. Quan niệm này mới thoạt nhìn tưởng chừng dành nhiều chỗ hơn cho
văn chương, nhưng trên thực tế tự trao cho nó nhiệm vụ xác nhận những cái đã biết,
hay có thể là nhiệm vụ kích động theo một cách ngây thơ và sơ khởi, bằng những khoái
cảm bồng bột của sự mới mẻ và tính tự phát. Đằng sau cách nghĩ này là quan niệm
về một tập hợp các giá trị được thiết lập cho rằng văn chương có trách nhiệm bảo
tồn, một ý tưởng cổ điển và cứng nhắc coi văn chương là kho cất giữ một chân lý
sẵn có. Nếu chấp nhận vai trò này, thì văn chương coi như tự giam cầm nó trong
chức năng an ủi, bảo tồn và thoái bộ - một chức năng tôi tin là có hại nhiều hơn
có lợi.
Liệu điều này có nghĩa là tất cả
mục đích chính trị của văn chương đều sai? Không, tôi tin rằng bên cạnh hai mục
đích sai lầm còn có hai mục đích đúng đắn.
Văn chương cần nhất cho chính
trị là khi nó mang lại tiếng nói cho bất cứ gì còn chưa được lên tiếng, mang lại
tên cho những gì còn chưa có tên, nhất là cho những gì mà ngôn ngữ chính trị loại
trừ hay tìm cách loại trừ. Ý tôi là các khía cạnh, tình thế và ngôn ngữ ở cả thế
giới bên ngoài và bên trong, các xu hướng bị kìm nén ở cả bên trong cá nhân và
xã hội. Văn chương giống như cái tai có thể nghe được những thứ nằm ngoài tầm thẩm
thấu của ngôn ngữ chính trị; giống như con mắt có thể nhìn thấy bên ngoài phổ
màu mà chính trị có thể tri nhận. Chính là nhờ tinh thần cá nhân chủ nghĩa đơn
độc trong tác phẩm anh ta, mà nhà văn có thể khai phá những vùng chưa ai khai
phá, ở trong hay ngoài anh ta, và không sớm thì muộn biến các khám phá đó thành
những địa hạt sống còn của tâm thức tập thể.
Đây vẫn còn là mục đích rất gián
tiếp, thiếu cân nhắc và ngẫu hứng của văn chương. Người viết đi theo con đường riêng
của anh ta; và cơ hội hay các yếu tố tâm lý và xã hội sẽ đưa anh ta khám phá ra
thứ gì đó có thể trở nên quan trọng với hành động chính trị, và cả hành động xã
hội nữa. Trách nhiệm của người theo dõi chính trị-xã hội là không phó mặc bất cứ
gì cho may rủi, và áp dụng phương pháp riêng của anh ta cho công việc văn
chương theo cách không để vuột mất bất cứ gì.
Nhưng tôi nghĩ, vẫn còn một dạng
ảnh hưởng khác văn chương có thể tạo ra, có lẽ không trực tiếp hơn nhưng chắc
chắn có chủ ý hơn từ phía người viết. Đây là khả năng áp đặt các dạng thức của ngôn
ngữ, của tầm nhìn, óc tưởng tượng, tâm trí, của mối tương liên các sự thực và
ngắn gọn là việc tạo ra (tôi nói tạo ra nghĩa là chọn lựa và tổ chức) một mô
hình giá trị có cả tính thẩm mỹ và đạo đức, là cốt yếu cho bất cứ kế hoạch hành
động nào, nhất là trong đời sống chính trị.
Như vậy là sau khi loại trừ
giáo dục chính trị ra khỏi các chức năng của văn chương, tôi nhận ra mình tin
vào một kiểu giáo dục qua ngả văn chương; một kiểu giáo dục chỉ có thể đem lại
kết quả nếu nó khắt khe và gián tiếp, nếu nó hàm ý sự đạt được tính nghiêm ngặt
văn chương một cách đầy gam go.
Bất cứ kết quả nào văn chương đạt
được, miễn là nó nghiêm ngặt và chặt chẽ, có thể được xem là nền tảng vững chắc
cho tất cả hoạt động thực tiễn đối với bất cứ ai mong mỏi việc xây dựng một trật
tự tinh thần vững chắc và đủ phức tạp để chứa đựng sự vô trật tự của thế giới
bên trong chính trật tự đó; đối với bất cứ ai nhắm đến việc thiết lập một phương
pháp đủ tinh vi và linh hoạt đến mức như thể không có bất cứ phương pháp nào.
Tôi đã nói về hai cách hiểu
đúng đắn, nhưng bây giờ tôi có thể phân biệt một cách hiểu thứ ba, liên hệ đến thái
độ phê phán mà văn chương tự nhìn nhận nó. Nếu có thời văn chương được coi là tấm
gương soi cho thế giới, hay là biểu lộ trực tiếp của cảm xúc, thì bây giờ chúng
ta không thể làm ngơ sự thật rằng những cuốn sách đều được tạo bởi từ ngữ, ký
hiệu, bởi các phương pháp xây dựng. Chúng ta không thể nào quên được rằng ngay
cả tác giả nhiều khi cũng không biết những cuốn sách giao tiếp gì, rằng chúng thường
nêu lên các thứ khác với những gì chúng định bày tỏ, rằng trong bất cứ cuốn
sách nào cũng có một phần là của tác giả và một phần là công trình tập thể và
vô danh.
Nhận thức này không chỉ tác động
đến riêng văn chương: nó còn có thể hữu ích cho chính trị, cho phép môn khoa học
này khám phá ra rằng những gì nó chứa đựng cũng chẳng hơn gì sự xây dựng ngôn từ,
huyền thoại, hay topos văn chương.
Chính trị, cũng như văn chương, trên hết phải hiểu chính nó và bất tin chính
nó.
Một nhận xét cuối cùng, tôi muốn
nói thêm rằng nếu như không ai trong chúng ta hôm nay có thể cảm thấy là mình ngây
thơ, nếu như chúng ta có thể khám phá một động cơ tàng ẩn trong bất cứ gì mình
làm hay nói - dù anh là da trắng, đàn ông, hay người có thu nhập nhất định, hay
thành viên của một hệ thống kinh tế, hay bất cứ người bị chứng loạn thần kinh
nào - thì chúng ta cũng không nên quy điều đó vào một cảm giác tội lỗi chung
chung hay thái độ buộc tội chung chung.
Một khi ý thức được bệnh trạng
hay động cơ tàng ẩn của mình, chúng ta đã bắt đầu hiểu chúng hơn. Điều quan trọng
là cách chúng ta chấp nhận các động cơ ấy và vượt qua cuộc khủng hoảng kế tiếp.
Đây là cơ hội duy nhất để chúng ta trở nên khác với con người mình đang là - tức
là, con đường duy nhất để phát kiến ra một chân tính mới.
Tân dịch
Từ
Calvino, Italo, "Right and Wrong Political Uses of Literature." trong
Calvino, The Literature Machine,
Trans. Patrick Creagh, London: Pan/Secker & Warburg, 1987, 89-100.
[1]
Ungovernability. Tính thiết trị (governability) ở đây là một khái niệm thuộc hệ
thống thuật ngữ của Foucault.
[2] Ám chỉ sự nổi lên của người dân thuộc địa
mới và hậu thuộc địa.
[3]
Eschatology: còn gọi là mạt thế luận, môn nghiên cứu về số phận sau cùng của
con người.
[4] Gravity, từ Calvino dùng để đối lập với
“lightness” (tính nhẹ). Xem thêm Italo Calvino, Những bài giảng Mỹ: sáu điểm ghi nhớ cho thiên kỷ mới, Cao Việt
Dũng dịch, tạp chí Văn học nước ngoài, số 1, 2 năm 2007.
No comments:
Post a Comment