Đây là một trong những tiết đoạn có thể nói là quan trọng nhất và được trích dẫn nhiều nhất của Jürgen Habermas, trong đó ông truy vấn nỗ lực của giới thị dân nhằm thoát khỏi vòng kiềm toả của chính quyền, từ đó dẫn đến việc phát triển và lan toả một hình thức hội nhóm rất quan trọng của văn minh phương Tây, ấy là các salon. Việc hiểu rõ bối cảnh ra đời và vai trò của salon là rất quan trọng, và tôi luôn có một mong muốn là bằng cách nào đó đưa khái niệm này quay trở lại trong bối cảnh hiện tại. Đây chưa phải là bản hoàn chỉnh.
Sự biến đổi cấu trúc của Không gian công: Truy vấn về một dạng xã hội thị dân[1]
Sự biến đổi cấu trúc của Không gian công: Truy vấn về một dạng xã hội thị dân[1]
Trích Phần II. Các cấu
trúc xã hội của Không gian công
Không gian công của thị dân có thể được hiểu trước hết là
không gian của các cá nhân hợp lại với nhau như một không gian công cộng; họ nhanh
chóng đòi cho mình một không gian công được sắp đặt nằm ngoài vòng kiểm soát của
chính quyền, để giúp họ tham gia vào cuộc tranh luận về các quy định chung thiết
định các mối quan hệ trong một không gian tuy về cơ bản là tư nhân hoá nhưng vẫn
có liên quan đến công chúng, ấy là không gian về trao đổi hàng hoá và lao động
xã hội. Phương tiện cho cuộc đối đầu mang tính chính trị này thật đặc trưng và
chưa từng có tiền lệ: đó là việc người dân dùng lý trí của mình ngoài công cộng
(öffentlichen Räsonnement). Trong
ngôn ngữ chúng ta [tiếng Đức], cách dùng thuật ngữ này (Räsonnement) rõ ràng giữ được các sắc thái mang tính luận chiến ở cả
hai phía: vừa là cầu viện lý trí, vừa là miệt thị như một tiếng phàn nàn cau
có. Cho tới nay các tầng lớp[2] đã
thương lượng bằng khế ước với các vương công [prince]; nhờ đó mà những yêu sách
quyền lực mâu thuẫn nhau, xuất hiện do việc phân tách các đặc quyền về tài sản
ra khỏi cương vị lãnh chúa hay quyền tối cao của vương công, được đưa trở về thế
cân đối[3]. Kể
từ thế kỷ mười ba, cách làm này ban đầu gây ra một thế lưỡng phân cho các tầng
lớp thống trị và vương công; nhanh chóng sau đó, nói đến đất đai là nói đến các
điền trang, chứ không còn là chủ đất[4]. Chúng
ta cũng biết rằng, ở nơi quyền lực của vương công tương đối suy giảm do sự có mặt của nghị viện, chẳng hạn như
ở Anh, sự phát triển này trải qua một con đường khác với ở lục địa, bằng cách
nhà vua chuyển dần đất đai cho chư hầu[5]. Tầng
lớp thứ ba [tức bình dân - ND] phá vỡ thế cân bằng quyền lực này bởi nó không
còn có khả năng tự thiết lập như là một tầng lớp thống trị. Sự phân chia quyền lực bằng cách chia nhỏ quyền lợi của
lãnh chúa (kể cả các "đặc quyền" của các tầng lớp) dựa trên cơ sở một
nền kinh tế thương mại là không còn khả thi, bởi vì quyền kiểm soát của cải lưu
hành thuộc vốn của một, người dựa trên nền tảng tư pháp, là phi chính trị. Thị
dân là các cá nhân; bởi thế họ không "cai trị". Các đòi hỏi quyền lực
của họ trước chính quyền bởi thế không đi ngược lại hướng tập trung hoá quyền lực
làm chủ, vốn lẽ ra phải được "chia nhỏ"; thay vào đó, họ nới lỏng
nguyên tắc mà sự thống trị hiện đang dựa vào. Nguyên tắc kiểm soát tập trung vừa
nhắc đến chính làđối chọi với công chúng
thị dân; cái họ muốn là một nguyên tắc kiểm soát khác, hay gọi là tính công
khai [publicity], nhằm làm thay đổi thế thống trị như vậy. Đòi hỏi quyền lực được
đưa ra trong những cuộc tranh luận công khai mang tính lý tính-phê phán (öffentlichen Räsonnement), vốn tự nó từ bỏ hình thức của một đòi hỏi nhằm
thống trị; thay vào đó, nếu như lan khắp, nó sẽ đòi hỏi nhiều hơn là chỉ một sự
hoán đổi về cơ sở của tính hợp pháp, trong khi, sự thống trị về nguyên tắc vẫn
được duy trì (xem tiết đoạn 7).
Các tiêu chuẩn của "lý tính" và các hình thức của
"luật lệ" mà công chúng hướng sự thống trị đến và theo đó thay đổi
nó [sự thống trị] về thực chất, chỉ cho thấy hàm nghĩa mang tính xã hội học của
chúng nếu được đặt trong một phân tích riêng về không gian công của thị dân, đặc
biệt phải có sự ghi nhận rằng chính các cá nhân mới là người liên hệ với nhau ở
trong đó để tạo nên một không gian công cộng. Hiểu biết của công chúng về cách dùng
lý tính ngoài công cộng được dẫn dắt cụ thể bởi các kinh nghiệm riêng tư phát
sinh từ tính chủ quan [subjectivity] hướng-khán giả [audience-oriented] (publikumsbezogen) của đời sống riêng (Intimsphäre) trong mỗi hộ gia đình. Xét
về mặt lịch sử, cái kinh nghiệm vừa nhắc đến là nguồn gốc của tính riêng tư [privateness]
theo nghĩa hiện đại về một đời sống riêng bão hoà và tự do. Nghĩa cổ của "riêng
tư" [private] - một điều không thể tránh khỏi do những cái bắt buộc trong
cuộc sống - là bị cấm chỉ, hay đại loại, ra khỏi không gian riêng, khỏi ngôi
nhà, cùng với đó là sự sức và gắn mình với
những mối quan hệ lệ thuộc của lao động xã hội. Cùng với sự trao đổi hàng hoá
bùng nổ, tách mình khỏi sự giam hãm của nền kinh tế hộ gia đình, không gian của
hộ gia đình cũng trở nên tách bạch với không gian của tái sản xuất xã hội. Quá
trình phân cực hoá nhà nước và xã hội được lặp lại một lần nữa ở chính bên
trong xã hội. Địa vị của con người cá nhân đã kết hợp vai trò chủ hàng hoá với
vai trò trụ cột của gia đình, vai trò chủ nhân của cải với vai trò "con
người" thực chất. Sự song trùng của không gian riêng tư [private sphere] trên
một mặt phằng cao hơn không gian thân tính [intimate sphere] (tiết đoạn 6) đã trang
bị nền tảng cho sự đồng nhất hai vai trò ấy dưới cái tên chung là "riêng
tư"; sau cùng, hiểu biết chính trị của công chúng thị dân cũng bắt nguồn từ
đó[6].
Để chắc chắn, trước khi không gian công giả định rõ ràng các
chức năng chính trị trong phạm vi đầy gánh nặng của mối quan hệ nhà nước-xã hội,
thì tính chủ quan bắt nguồn từ trong không gian thân tính của hộ gia đình đã tạo
ra công chúng riêng cho mình. Thậm chí trước khi sự kiểm soát không gian công bởi
chính quyền bị đặt nghi vấn và cuối cùng bị tống khứ nhờ vào lý trí phê phán của
các cá nhân đối với những vấn đề chính trị, thì bên dưới tấm màn che của nó vẫn
sinh ra một không gian công dưới hình thức phi chính trị - một tiền thân về văn
chương của không gian công có hiệu lực trên địa hạt chính trị. Nó [không gian
công về văn chương - ND] mang đến nền móng để rèn giũa cho sự chiêm nghiệm có
tính phê phán ở công chúng, vốn vẫn còn bận rộn chính nó - một quá trình gạn đục
khơi trong của cá nhân tập trung vào các kinh nghiệm chân thực về sự riêng tư mới
mẻ của họ. Tất nhiên, kế cận nền kinh tế chính trị, tâm lý học cũng nảy lên như
là một khoa học thị dân riêng biệt trong thế kỷ mười tám. Những mối quan tâm về
tâm lý học cũng dẫn dắt cuộc thảo luận có tính phê phán (Räsonnement), vốn loé sáng nhờ các sản phẩm của văn hoá vốn đã trở
nên dễ dàng tiếp cận với công chúng: trong phòng đọc và rạp hát, tại các bảo
tàng hay buổi hoà nhạc. Chính vì văn hoá
đã trở thành một món hàng hoá và sau rốt phát triển thành thứ "văn
hoá" theo một nghĩa riêng (như là thứ gì đó vờ tồn tại chỉ vì lợi ích của
nó), nó được cho là chủ đề sẵn sàng cho cuộc thảo luận mà ở đó một tính chủ
quan hướng-khán giả (publikumsbezogen)
tự giao thông với chính nó[7].
Không gian công trong thế giới văn chương (literarische Öffentlichkeit) tất nhiên
không mang tính thị dân một cách bản địa;[8] nó
bảo toàn một sự liên tục nhất định với tính công khai xuất hiện trong lời tuyên
bố được đưa ra tại triều đình của vương công. Giới tiền phong thị dân thuộc lớp
trung lưu có học đã học được nghệ thuật tranh luận lý tính-phê phán ngoài công
cộng qua sự tiếp xúc của nó với "thế giới thanh lịch." Xã hội quyền
quý này, cũng như việc bộ máy nhà nước hiện đại[9] trở
nên độc lập khỏi không gian cá nhân của nhà vua, đến lượt nó, cũng trở nên tách
biệt hơn với triều đình và trở thành đối trọng của triều đình nơi thành thị.
"Thành thị" là trung tâm đời sống của xã hội dân sự không chỉ về mặt
kinh tế; ở phía đối nghịch với triều đình về mặt văn hoá-chính trị, nó đặc biệt
biểu thị một không gian công sớm sủa trong thế giới văn chương nơi các định chế
là những quán cà phê, các salon, và Tischgesellschaften (hội bàn tròn).[10]
Những người kế thừa của xã hội nhân văn-quý tộc, trong cuộc chạm trán của họ với
giới trí thức thị dân (qua các cuộc đàm luận giao du được phát triển nhanh
chóng thành sự phê phán của công chúng), đã bắc một cây cầu nối phần tàn dư của
một hình thức tính công khai đang đổ vỡ (của triều đình) với tiền thân của một
hình thức mới: không gian công thị dân (tiết đoạn 5).
Với sự hạn chế để giữ cho mọi thứ được đơn giản trong những
minh hoạ như thế này, bản sơ đồ của không gian công thị dân ở thế kỷ mười tám
có thể được mô tả như một bảng lược đồ các địa hạt xã hội dưới đây:
Địa hạt Riêng tư
|
Không gian của Chính quyền
|
|
Xã hội dân sự (địa hạt của trao đổi hàng hoá và lao động
xã hội)
|
Không gian công trong địa hạt chính trị
Không gian công trong giới văn chương (các câu lạc bộ, báo
chí)
|
Nhà nước (địa hạt của "cảnh sát")
|
Không gian bên trong của hộ gia đình (các trí thức thị
dân)
|
(thị trường của các sản phẩm văn hoá) "Thành thị"
|
Triều đình (xã hội quyền quý)
|
Đường kẻ giữa nhà nước và xã hội, vốn là nền tảng trong phạm
vi chúng ta đang xét, chia tách không gian công khỏi địa hạt riêng tư. Không
gian công có cùng ranh giới với chính quyền, và chúng ta coi triều đình là một
phần của nó. Bao gộp trong địa hạt riêng tư là "không gian công" xác
thực [authentic], bởi nó là không gian công được tạo thành bởi người dân. Bên
trong địa hạt này, cũng là nơi bảo toàn con người cá nhân, chúng ta một lần nữa
phân định giữa không gian công và không gian tư. Không gian tư bao gồm xã hội
dân sự theo nghĩa hẹp, tức là, địa hạt của trao đổi hàng hoá và lao động xã hội;
gắn bên trong nó là hộ gia đình với đời sống riêng (Intimsphäre). Không gian công trong địa hạt chính trị phát sinh từ
không gian công trong thế giới văn chương; nhờ vào phương tiện truyền bá của
công luận, nó giúp nhà nước tiếp cận với các nhu cầu của xã hội.
Jürgen Habermas
1962
[1] Dịch sang tiếng Anh bởi Thomas Burger.
[2] Mỗi tầng lớp [estate] đã được chính thức trao cho các quyền
riêng biệt: theo truyền thống, đó là lớp quý tộc, tăng lữ, và bình dân. [Chú
thích của Burger]
[3] Các khế ước [contract] về địa vị như vậy, luôn được ký kết
khi một hiệp sĩ tỏ lòng tôn kính với người kệ vị của Chúa công, hoàn toàn không
thể so sánh với các khế ước theo nghĩa của tư pháp hiện đại; xem thêm Otto
Brunner, Land und Herrschaft [Đất đai và Quyền chiếm hữu] (1943),
484ff. [Chú thích của Habermas]
[4] Xem W. Naef, "Frühformen des modernen Staates in
Spätmittelalten" ["Các hình thức sơ khai của các Nhà nước hiện đại
vào cuối thời Trung cổ"], Historische
Zeitschrift 171 (1951): 225ff. [Habermas]
[6] Erich Auerbach tìm thấy từ "công chúng"
[public], với nghĩa khán giả sân khấu, được ghi chép từ năm 1629; cho đến khi
đó, người ta chỉ dùng từ "công cộng" [public] như một danh từ chỉ nhà
nước hay phúc lợi công. Xem thêm Der französische
publikum des 17. Jahrhunderts [Cộng
hoà Pháp thế kỷ 17] (1993), tr. 5. [Habermas]
[7] Habermas vừa lần theo sự chuyển dịch về nghĩa của từ công cộng [public] vừa đặt nghi vấn về
việc ấn định theo thuyết tự do các hoạt động kinh tế là "riêng tư" [private].
Bởi vì "nền kinh tế" không còn để chỉ hộ gia đình, nó trở thành
"công cộng" - một từ ban đầu để chỉ chủ yếu các vấn đề của nhà nước.
Bởi vậy nhà nước hiện đại (chính phủ) trông khác với các nhà nước trước đây: nó
buộc phải thiết lập một mối quan hệ với "xã hội dân sự" và "thị
trường," một mối quan hệ vừa có tính chính trị, vừa có tính công cộng.
[Burger]
[9] Tức nhà nước có bộ máy hành chính quan liêu, vốn ngày một ảnh
hưởng nhiều hơn đến đất nước bằng các biện pháp được thiết lập và các viên chức
hưởng lương vĩnh viên. [Burger]
[10] Tức là, các cuộc hội họp của giới văn nghệ sĩ, trí thức để
đàm luận các vấn đề thời sự.[Burger]
No comments:
Post a Comment