26 Nov 2012

Jürgen Habermas


Đây là một trong những tiết đoạn có thể nói là quan trọng nhất và được trích dẫn nhiều nhất của Jürgen Habermas, trong đó ông truy vấn nỗ lực của giới thị dân nhằm thoát khỏi vòng kiềm toả của chính quyền, từ đó dẫn đến việc phát triển và lan toả một hình thức hội nhóm rất quan trọng của văn minh phương Tây, ấy là các salon. Việc hiểu rõ bối cảnh ra đời và vai trò của salon là rất quan trọng, và tôi luôn có một mong muốn là bằng cách nào đó đưa khái niệm này quay trở lại trong bối cảnh hiện tại. Đây chưa phải là bản hoàn chỉnh.

Sự biến đổi cấu trúc của Không gian công: Truy vấn về một dạng xã hội thị dân[1]
Trích Phần II. Các cấu trúc xã hội của Không gian công

Tiết đoạn 4. Bảng lược đồ

Không gian công của thị dân có thể được hiểu trước hết là không gian của các cá nhân hợp lại với nhau như một không gian công cộng; họ nhanh chóng đòi cho mình một không gian công được sắp đặt nằm ngoài vòng kiểm soát của chính quyền, để giúp họ tham gia vào cuộc tranh luận về các quy định chung thiết định các mối quan hệ trong một không gian tuy về cơ bản là tư nhân hoá nhưng vẫn có liên quan đến công chúng, ấy là không gian về trao đổi hàng hoá và lao động xã hội. Phương tiện cho cuộc đối đầu mang tính chính trị này thật đặc trưng và chưa từng có tiền lệ: đó là việc người dân dùng lý trí của mình ngoài công cộng (öffentlichen Räsonnement). Trong ngôn ngữ chúng ta [tiếng Đức], cách dùng thuật ngữ này (Räsonnement) rõ ràng giữ được các sắc thái mang tính luận chiến ở cả hai phía: vừa là cầu viện lý trí, vừa là miệt thị như một tiếng phàn nàn cau có. Cho tới nay các tầng lớp[2] đã thương lượng bằng khế ước với các vương công [prince]; nhờ đó mà những yêu sách quyền lực mâu thuẫn nhau, xuất hiện do việc phân tách các đặc quyền về tài sản ra khỏi cương vị lãnh chúa hay quyền tối cao của vương công, được đưa trở về thế cân đối[3]. Kể từ thế kỷ mười ba, cách làm này ban đầu gây ra một thế lưỡng phân cho các tầng lớp thống trị và vương công; nhanh chóng sau đó, nói đến đất đai là nói đến các điền trang, chứ không còn là chủ đất[4]. Chúng ta cũng biết rằng, ở nơi quyền lực của vương công tương đối suy  giảm do sự có mặt của nghị viện, chẳng hạn như ở Anh, sự phát triển này trải qua một con đường khác với ở lục địa, bằng cách nhà vua chuyển dần đất đai cho chư hầu[5]. Tầng lớp thứ ba [tức bình dân - ND] phá vỡ thế cân bằng quyền lực này bởi nó không còn có khả năng tự thiết lập như là một tầng lớp thống trị. Sự phân chia quyền lực bằng cách chia nhỏ quyền lợi của lãnh chúa (kể cả các "đặc quyền" của các tầng lớp) dựa trên cơ sở một nền kinh tế thương mại là không còn khả thi, bởi vì quyền kiểm soát của cải lưu hành thuộc vốn của một, người dựa trên nền tảng tư pháp, là phi chính trị. Thị dân là các cá nhân; bởi thế họ không "cai trị". Các đòi hỏi quyền lực của họ trước chính quyền bởi thế không đi ngược lại hướng tập trung hoá quyền lực làm chủ, vốn lẽ ra phải được "chia nhỏ"; thay vào đó, họ nới lỏng nguyên tắc mà sự thống trị hiện đang dựa vào. Nguyên tắc kiểm soát tập trung vừa nhắc đến chính  làđối chọi với công chúng thị dân; cái họ muốn là một nguyên tắc kiểm soát khác, hay gọi là tính công khai [publicity], nhằm làm thay đổi thế thống trị như vậy. Đòi hỏi quyền lực được đưa ra trong những cuộc tranh luận công khai mang tính lý tính-phê phán (öffentlichen Räsonnement), vốn tự nó từ bỏ hình thức của một đòi hỏi nhằm thống trị; thay vào đó, nếu như lan khắp, nó sẽ đòi hỏi nhiều hơn là chỉ một sự hoán đổi về cơ sở của tính hợp pháp, trong khi, sự thống trị về nguyên tắc vẫn được duy trì (xem tiết đoạn 7).

Các tiêu chuẩn của "lý tính" và các hình thức của "luật lệ" mà công chúng hướng sự thống trị đến và theo đó thay đổi nó [sự thống trị] về thực chất, chỉ cho thấy hàm nghĩa mang tính xã hội học của chúng nếu được đặt trong một phân tích riêng về không gian công của thị dân, đặc biệt phải có sự ghi nhận rằng chính các cá nhân mới là người liên hệ với nhau ở trong đó để tạo nên một không gian công cộng. Hiểu biết của công chúng về cách dùng lý tính ngoài công cộng được dẫn dắt cụ thể bởi các kinh nghiệm riêng tư phát sinh từ tính chủ quan [subjectivity] hướng-khán giả [audience-oriented] (publikumsbezogen) của đời sống riêng (Intimsphäre) trong mỗi hộ gia đình. Xét về mặt lịch sử, cái kinh nghiệm vừa nhắc đến là nguồn gốc của tính riêng tư [privateness] theo nghĩa hiện đại về một đời sống riêng bão hoà và tự do. Nghĩa cổ của "riêng tư" [private] - một điều không thể tránh khỏi do những cái bắt buộc trong cuộc sống - là bị cấm chỉ, hay đại loại, ra khỏi không gian riêng, khỏi ngôi nhà, cùng với đó là sự  sức và gắn mình với những mối quan hệ lệ thuộc của lao động xã hội. Cùng với sự trao đổi hàng hoá bùng nổ, tách mình khỏi sự giam hãm của nền kinh tế hộ gia đình, không gian của hộ gia đình cũng trở nên tách bạch với không gian của tái sản xuất xã hội. Quá trình phân cực hoá nhà nước và xã hội được lặp lại một lần nữa ở chính bên trong xã hội. Địa vị của con người cá nhân đã kết hợp vai trò chủ hàng hoá với vai trò trụ cột của gia đình, vai trò chủ nhân của cải với vai trò "con người" thực chất. Sự song trùng của không gian riêng tư [private sphere] trên một mặt phằng cao hơn không gian thân tính [intimate sphere] (tiết đoạn 6) đã trang bị nền tảng cho sự đồng nhất hai vai trò ấy dưới cái tên chung là "riêng tư"; sau cùng, hiểu biết chính trị của công chúng thị dân cũng bắt nguồn từ đó[6].

Để chắc chắn, trước khi không gian công giả định rõ ràng các chức năng chính trị trong phạm vi đầy gánh nặng của mối quan hệ nhà nước-xã hội, thì tính chủ quan bắt nguồn từ trong không gian thân tính của hộ gia đình đã tạo ra công chúng riêng cho mình. Thậm chí trước khi sự kiểm soát không gian công bởi chính quyền bị đặt nghi vấn và cuối cùng bị tống khứ nhờ vào lý trí phê phán của các cá nhân đối với những vấn đề chính trị, thì bên dưới tấm màn che của nó vẫn sinh ra một không gian công dưới hình thức phi chính trị - một tiền thân về văn chương của không gian công có hiệu lực trên địa hạt chính trị. Nó [không gian công về văn chương - ND] mang đến nền móng để rèn giũa cho sự chiêm nghiệm có tính phê phán ở công chúng, vốn vẫn còn bận rộn chính nó - một quá trình gạn đục khơi trong của cá nhân tập trung vào các kinh nghiệm chân thực về sự riêng tư mới mẻ của họ. Tất nhiên, kế cận nền kinh tế chính trị, tâm lý học cũng nảy lên như là một khoa học thị dân riêng biệt trong thế kỷ mười tám. Những mối quan tâm về tâm lý học cũng dẫn dắt cuộc thảo luận có tính phê phán (Räsonnement), vốn loé sáng nhờ các sản phẩm của văn hoá vốn đã trở nên dễ dàng tiếp cận với công chúng: trong phòng đọc và rạp hát, tại các bảo tàng hay  buổi hoà nhạc. Chính vì văn hoá đã trở thành một món hàng hoá và sau rốt phát triển thành thứ "văn hoá" theo một nghĩa riêng (như là thứ gì đó vờ tồn tại chỉ vì lợi ích của nó), nó được cho là chủ đề sẵn sàng cho cuộc thảo luận mà ở đó một tính chủ quan hướng-khán giả (publikumsbezogen) tự giao thông với chính nó[7].

Không gian công trong thế giới văn chương (literarische Öffentlichkeit) tất nhiên không mang tính thị dân một cách bản địa;[8] nó bảo toàn một sự liên tục nhất định với tính công khai xuất hiện trong lời tuyên bố được đưa ra tại triều đình của vương công. Giới tiền phong thị dân thuộc lớp trung lưu có học đã học được nghệ thuật tranh luận lý tính-phê phán ngoài công cộng qua sự tiếp xúc của nó với "thế giới thanh lịch." Xã hội quyền quý này, cũng như việc bộ máy nhà nước hiện đại[9] trở nên độc lập khỏi không gian cá nhân của nhà vua, đến lượt nó, cũng trở nên tách biệt hơn với triều đình và trở thành đối trọng của triều đình nơi thành thị. "Thành thị" là trung tâm đời sống của xã hội dân sự không chỉ về mặt kinh tế; ở phía đối nghịch với triều đình về mặt văn hoá-chính trị, nó đặc biệt biểu thị một không gian công sớm sủa trong thế giới văn chương nơi các định chế là những quán cà phê, các salon, và Tischgesellschaften (hội bàn tròn).[10] Những người kế thừa của xã hội nhân văn-quý tộc, trong cuộc chạm trán của họ với giới trí thức thị dân (qua các cuộc đàm luận giao du được phát triển nhanh chóng thành sự phê phán của công chúng), đã bắc một cây cầu nối phần tàn dư của một hình thức tính công khai đang đổ vỡ (của triều đình) với tiền thân của một hình thức mới: không gian công thị dân (tiết đoạn 5).

Với sự hạn chế để giữ cho mọi thứ được đơn giản trong những minh hoạ như thế này, bản sơ đồ của không gian công thị dân ở thế kỷ mười tám có thể được mô tả như một bảng lược đồ các địa hạt xã hội dưới đây:

Địa hạt Riêng tư
Không gian của Chính quyền
Xã hội dân sự (địa hạt của trao đổi hàng hoá và lao động xã hội)


Không gian công trong địa hạt chính trị

Không gian công trong giới văn chương (các câu lạc bộ, báo chí)
Nhà nước (địa hạt của "cảnh sát")
Không gian bên trong của hộ gia đình (các trí thức thị dân)
(thị trường của các sản phẩm văn hoá) "Thành thị"

Triều đình (xã hội quyền quý)

Đường kẻ giữa nhà nước và xã hội, vốn là nền tảng trong phạm vi chúng ta đang xét, chia tách không gian công khỏi địa hạt riêng tư. Không gian công có cùng ranh giới với chính quyền, và chúng ta coi triều đình là một phần của nó. Bao gộp trong địa hạt riêng tư là "không gian công" xác thực [authentic], bởi nó là không gian công được tạo thành bởi người dân. Bên trong địa hạt này, cũng là nơi bảo toàn con người cá nhân, chúng ta một lần nữa phân định giữa không gian công và không gian tư. Không gian tư bao gồm xã hội dân sự theo nghĩa hẹp, tức là, địa hạt của trao đổi hàng hoá và lao động xã hội; gắn bên trong nó là hộ gia đình với đời sống riêng (Intimsphäre). Không gian công trong địa hạt chính trị phát sinh từ không gian công trong thế giới văn chương; nhờ vào phương tiện truyền bá của công luận, nó giúp nhà nước tiếp cận với các nhu cầu của xã hội.

Jürgen Habermas
1962



[1] Dịch sang tiếng Anh bởi Thomas Burger.
[2] Mỗi tầng lớp [estate] đã được chính thức trao cho các quyền riêng biệt: theo truyền thống, đó là lớp quý tộc, tăng lữ, và bình dân. [Chú thích của Burger]
[3] Các khế ước [contract] về địa vị như vậy, luôn được ký kết khi một hiệp sĩ tỏ lòng tôn kính với người kệ vị của Chúa công, hoàn toàn không thể so sánh với các khế ước theo nghĩa của tư pháp hiện đại; xem thêm Otto Brunner, Land und Herrschaft [Đất đai và Quyền chiếm hữu] (1943), 484ff. [Chú thích của Habermas]
[4] Xem W. Naef, "Frühformen des modernen Staates in Spätmittelalten" ["Các hình thức sơ khai của các Nhà nước hiện đại vào cuối thời Trung cổ"], Historische Zeitschrift 171 (1951): 225ff. [Habermas]
[5] Tức làm môi giới hoá [mediatize] đất đai (một vai trò của nghị viện ở Anh). [Burger]
[6] Erich Auerbach tìm thấy từ "công chúng" [public], với nghĩa khán giả sân khấu, được ghi chép từ năm 1629; cho đến khi đó, người ta chỉ dùng từ "công cộng" [public] như một danh từ chỉ nhà nước hay phúc lợi công. Xem thêm Der französische publikum des 17. Jahrhunderts [Cộng hoà Pháp thế kỷ 17] (1993), tr. 5. [Habermas]
[7] Habermas vừa lần theo sự chuyển dịch về nghĩa của từ công cộng [public] vừa đặt nghi vấn về việc ấn định theo thuyết tự do các hoạt động kinh tế là "riêng tư" [private]. Bởi vì "nền kinh tế" không còn để chỉ hộ gia đình, nó trở thành "công cộng" - một từ ban đầu để chỉ chủ yếu các vấn đề của nhà nước. Bởi vậy nhà nước hiện đại (chính phủ) trông khác với các nhà nước trước đây: nó buộc phải thiết lập một mối quan hệ với "xã hội dân sự" và "thị trường," một mối quan hệ vừa có tính chính trị, vừa có tính công cộng. [Burger]
[8] Tức là, được sản xuất hoàn toàn bởi, và trong, lớp thị dân.[Burger]
[9] Tức nhà nước có bộ máy hành chính quan liêu, vốn ngày một ảnh hưởng nhiều hơn đến đất nước bằng các biện pháp được thiết lập và các viên chức hưởng lương vĩnh viên. [Burger]
[10] Tức là, các cuộc hội họp của giới văn nghệ sĩ, trí thức để đàm luận các vấn đề thời sự.[Burger]

No comments:

Post a Comment