2 Jun 2009

Di sản của Abraham Lincoln [P.2]

Phần 1

Oakes xứng đáng nhận được tán thưởng cho việc làm rõ tư tưởng của Lincoln về vấn đề sắc tộc và nô lệ bằng cách đặt quá trình nhận thức của Lincoln vào một diễn tiến thời gian. Từ năm 1837, khi còn phục vụ cho cơ quan lập pháp bang Illinois, Lincoln đã lên án cái thể chế phân biệt ấy. Ông tin rằng chế độ nô lệ là hủ bại và nguy hiểm, một ung nhọt trong thể trạng chính trị. Sau khi nước Mỹ đánh bại Mexico năm 1848 và giành phần đất đai rộng lớn ở phương Tây, Lincoln một mực cho rằng không nên để cho chế độ nô lệ lan rộng. Cũng vào thời gian đó, ông tranh cãi rằng chính phủ liên bang không có quyền điều chỉnh tình trạng nô lệ ở nơi nó đang hiện hữu. Mặc dù vậy, đến cuối những năm 1850 Lincoln bắt đầu lo lắng rằng tầng lớp chủ nô hung hãn đang gia tăng sẽ là một nguy cơ cho sự sinh tồn của đất nước. Trong bài diễn văn House Divided, Lincoln đã nhắc lại vụ việc về đạo luật Kansas-Nebraska và phán quyết bất lợi của Tòa án tối cao cho Dred Scott. Tuy vậy, ông vẫn ủng hộ chính sách thực dân hóa, cho rằng sau khi bãi bỏ tình trạng nô lệ, những người được tự do nên trở về châu Phi. Như Oakes viết, “Ông cho phép sự phân biệt sắc tộc bởi đó là điều hầu hết người da trắng muốn”. Đến năm 1858 dù cá nhân ông không cho rằng người Mỹ gốc Phi là hạ đẳng so với người da trắng, Lincoln vẫn là một người phân biệt chủng tộc theo lối dân chủ. Người dân chỉ muốn người da đen đứng ở nấc cuối cùng trong thang bậc sắc tộc của nước Mỹ. Năm ấy Lincoln tranh cử vào Thượng viện như là một “white supremacist”.

Cuộc Nội chiến làm thay đổi cả Lincoln lẫn Douglass. Lincoln nhanh chóng nhận ra mục đích cuối cùng của mình là duy trì Liên bang thống nhất [The Union] chỉ có thể thực hiện được bằng cách khai trừ chế độ nô lệ. Và khi bản Tuyên bố Giải phóng [Emancipation Proclamation] có hiệu lực, ông cũng cho phép người Mỹ gốc Phi gia nhập quân đội, và chính sách này mang lại nhiều kết quả ngay lập tức. Những đội quân Mỹ đen đã chiến đấu quả cảm, đầy lùi những định kiến về sắc tộc, và Lincoln từ từ tiến đến việc kêu gọi quyền công dân cho tất cả người Mỹ. Trong khi đó Douglass đi theo đường chính trị. Vào mùa hè năm 1863, ông gặp Lincoln lần đầu tiên. Ngài tổng thống đã để lại trong ông ta ấn tượng. Nhưng vào thời gian Lincoln còn sống, nhà cải cách vẫn có chút gì khúc mắc. Chỉ sau khi Lincoln bị ám sát, Douglass mới vực lại những kí ức về Lincoln. Vào ngày 14 tháng Tư 1876, ông có bài phát biểu trong buổi giới thiệu bức tượng tưởng niệm Những người tự do [Freedmen’s Monument] ở Washington DC. Bức tượng có hình một người nô lệ được giải phóng quỳ dưới chân Lincoln làm Douglass thấy khó chịu. Sau khi nói Lincoln là “vị tổng thống xuất chúng của người da trắng”, Douglass nói thêm: “Thành thật mà nói, Ngài Lincoln có vẻ trễ nải, lãnh đạm, ngờ nghệch và bàng quan; nhưng xét trên tình cảm mà đất nước này dành cho ông, một tình yêu mà ở đó ông là một chính khách uyên bác thì ông là một người mau lẹ, sốt sắng, quyết liệt và kiên định.” Cuối cùng một nhà cải cách như Douglass đã có thể nhận ra giá trị trong việc làm của một chính trị gia.

Oakes cũng sử dụng những phông tương tự trong bài tiểu luận “Quyền tự nhiên, quyền công dân, quyền của liên bang và quyền của người da đen: Một cách nhìn khác về Lincoln và sắc tộc”, nằm trong tập tiểu luận Our Lincoln được Eric Foner biên tập. […] Cũng như hầu hết những tuyển tập khác, Our Lincoln khá không đồng đều. Hai chương khá nhất trong tập sách của Oakes và Foner tập trung vào những giới hạn của Lincoln. Oakes cho rằng độc giả chỉ có thể hiểu được sự vấp váp trong quan điểm của Lincoln về sắc tộc bằng cách xem xét nó dưới ba cấp độ: Lincoln tin rằng người da trắng và da đen chia sẽ những quyền tự nhiên giống nhau; đến khi gần cuối đời ông kết luật rằng người Mỹ gốc Phi đã có được những quyền công dân; và việc ông một mực cho rằng một số vấn đề, chẳng hạn như luật hôn nhân và quyền bầu cử, phải nằm trong thẩm quyền của liên bang. Lặp lại luận điểm này trong tập sách dài hơn Người Cấp tiến và người Cộng hòa [The Radical and the Republican], Oaked kết luận rằng, “sự chiều theo số đông một cách dân chủ của Lincoln giải thích sự bất nhất rối rắm của ông cũng như những định kiến về sắc tộc.” Nhưng cốt lõi là ở đâu khi ông lại cho rằng những người Mỹ đen được giải phóng phải trở về châu Phi? Foner cho rằng sự thực dân hóa nên được đặt trong hoàn cảnh của những kế hoạch cải đổi [engineering scheme] về sắc tộc vào thế kỉ mười chín, để hiểu rõ quan điểm của Lincoln về vấn đề này. Ông lo sợ người da trắng và da đen sẽ không bao giờ sống hòa hợp được trong cùng một xã hội. Và do đó, mặc dù được giải phóng trở thành một mắt xích của nước Mỹ, người Mỹ gốc Phi sẽ phải ra đi, vì một tương lại tốt đẹp hơn. Chỉ sau khi bản Tuyên bố Giải phóng có hiệu lực thì Lincoln mới ngừng nói công khai về ưu điểm của việc thực dân hóa.

Cuốn sách Một giới thiệu ngắn về Lincoln [Lincoln: A very short introduction] của Alan Guelzo kể câu chuyện về cuộc đời ngài tổng thống trong khoảng 35.000 từ. Đó là câu chuyện kể về những gì còn đọng lại và những gì đã đi vào quên lãng. Guelzo chọn cách tránh đi vào những mối quan hệ của Lincoln, không chỉ với gia đình mà cả với những đồng nghiệp và cấp dưới, và tránh sa đà vào một intellectual context. Đó là một “tiểu sử về tư tưởng”, đặc biệt là về những cách nhìn tự do về bình đẳng, đã xây nên quan điểm chính trị của Lincoln. Guelzo viết một ít về khoảng thời gian lớn lên của Lincoln, nhằm tập trung hơn vào thời gian ông làm luật sư và thành viên của cơ quan lập pháp bang Illinois và những kinh nghiệm đã dạy ông bất tin những hấp dẫn về ưu điểm mà dựa vào những phép tắc của luật như là một vật cản cho chế độ chuyên chế. Từ đó, Guelzo lại đụng đến những đề tài thường thấy: Đạo luật hòa giải năm 1850 và Đạo luật Kansas-Nebraska lật lại câu hỏi về số phận của lớp nô lệ ở phương Tây; bài diễn văn “House Divided” và tranh luận của Lincoln với Douglass, đưa ông lên đỉnh cao; bài diễn văn năm 1860 tại Cooper Union, giúp Lincoln bảo đảm chức ứng cử viên tổng thống đảng Cộng hòa; rồi đến đề tài chiến tranh, sự giải phóng và nỗi thống khổ.

Tất cả những tranh luận về sắc tộc và nô lệ có thể hạ giá trị của Lincoln xuống. Đó là những gì Barry Schwartz đặt ra trong cuốn Abraham Lincoln trong Kỉ nguyên hậu anh hùng [Abraham Lincoln in the Post-Heroic Era]. Schwartz viết rằng danh tiếng của Lincoln đạt đến đỉnh cao trong kỉ nguyên tiến bộ [Progressive Era]. Người Mỹ khi đó tập trung vào Lincoiln như một lãnh tụ của dân tộc. Ngay cả vào thời “cải cách quân bình [egalitarian reform]”, Schwartz nói, người dân bình thường vẫn đề cao lãnh đạo của họ. Lincoln được xem như một “nhân vật đầy tôn kính và là hình tượng của sự thống nhất, bình đẳng và công bằng”. Tuy vậy vào thời gian sau, trước những xu hướng về quyền công dân hiện đại và những điều kiện của thời kì hậu hiện đại bắt đầu làm lay chuyển văn hóa, Lincoln lại “nhắc nhở về một thời kì phân biệt sắc tộc không ngừng của đất nước”. Khi người Mỹ trở nên hoài nghi hơn, họ nhìn lãnh tụ của mình dưới cặp mắt thành kiến. Cùng lúc đó, Schwartz ghi chú, ý thức hệ đa văn hóa khuyến khích “những nhóm sắc tộc và thiểu số dung dưỡng tính cá biệt mang tính lịch sử của họ”, hơn là đắm mình trong một quá khứ san sẻ. Hiểu theo nghĩa đó, Lincoln được biết đến nhiều hơn bởi công cuộc giải phóng nô lệ hơn là duy trì Liên bang. Do đó, ông làm nhiều người Mỹ nhớ lại những chương đáng quên trong lịch sử.

Abraham Lincoln trong Kỉ nguyên hậu anh hùng là một cuốn sách đặt ra những mâu thuẫn. Một mặt Schwartz nhận ra rằng những tiền điều kiện [precondition] văn hóa cần cho một dạng cổ súy Lincoln ở đầu thế kỉ hai mươi là không phù hợp. “Nếu Lincoln được tôn kính sâu sắc như sáu hay bảy thập kỉ về trước,” Schwartz viết, “thì chúng ta buộc phải trở lại trật tự xã hội của một thế chế độc tài hơn, ít những sự trung thành ràng buộc hơn, và phân biệt xã hội sâu sắc hơn.” Ông kết luận rằng “một sự trở lại như vậy là quá tầm, và một số người sẽ chở đợi một chủ nghĩa bộ lạc mang tính sắc tộc, tôn giáo và ê-thíc đi cùng với nó”. Mặt khác, đôi lúc ông lại tiếc rằng “kết quả của những dòng chảy đan xen của tính hậu hiện đại và chủ nghĩa đa văn hóa làm phai nhạt đi những thắng lợi và hình ảnh oai hùng trong lịch sử nước Mỹ.” Nói về thời kì đó, khi chuyển sang những trích dẫn của những nhà hoạt động cánh hữu như David Horowitz về sự băng hoại đạo đức của đất nước, Schwartz từ một học giả viết về kí ức trở thành một chiến binh trên mặt trận văn hóa. Cuốn sách của ông do đó trở thành một trần thuật của sự biến cách, một ai oán cho một thời kì đã qua. Bỏ qua u mặc trong đoạn viết về những giễu nhạo hiện tại của Lincoln về kỉ nguyên internet hay The Simpsons, Schwartz thử đổi sang giọng của một lão già tức tối quát tháo bọn trẻ biến khỏi khu vườn của ông ta.

Ngay cả sau khi giành được chức tổng thống, Barack Obama tiếp tục làm gợi lại Abraham Lincolin. Obama đến Washington trên cùng tuyến xe lửa mà Lincoln đã đi năm 1861. Ông tuyên thệ khi nhậm chức trước quyển kinh thánh của Lincoln. Ông chọn cùng bữa trưa mà Lincoln đã ăn trong ngày nhậm chức của ông ta. Và khi đất nước lầy lội trong chuỗi khủng hoảng, Obama nói rằng ông ta tìm thấy từ Lincoln niềm cảm hứng. Trong khi đó, Ron Paul không bảo đảm được chức ứng cử viên của đảng Cộng hòa, bất kể lòng nhiệt thành của những người ủng hộ. Tuy nhiên ông ta cũng nhắc đến Lincoln cho những mục đích chính trị. Vào ngày 15 tháng Tư, Paul và hàng trăm ngàn người phản đối chính phủ xuống đường để chỉ trích sự lạm quyền của chính quyền liên bang. Cùng với lời tố cáo rằng việc thu thuế thu nhập là trái hiến pháp, những lãnh đạo của đảng phái gọi là Tea Parties phủ lên nỗi lo lắng về sự ly khai. Rick Perry, thống đốc của bang Texas theo đảng Cộng hòa, cảnh báo rằng nếu điều đó xảy ra, tiểu bang có tên the Lone Star có thể quyết định rời khỏi Liên bang. Và khi những người bình luận chính trị bu vào chỉ trích Perry, Paul vẫn bảo vệ ông ta khi cho rằng, “bây giờ nói về sự ly khai là rất Mỹ”. Cũng có thể, nhưng Lincoln xứng đáng nhận được phần quà hậu hĩnh hơn thế trong ngày sinh nhật thứ hai trăm của mình.

Ari Kelman

Những cuốn sách được điểm trong bài

Philip B. Kunhardt III, Peter W. Kunhardt and Peter W. Kunhardt Jr
LOOKING FOR LINCOLN
The making of an American icon

James Oakes
THE RADICAL AND THE REPUBLICAN
Frederick Douglass, Abraham Lincoln, and the triumph of anti-slavery politics

Eric Foner, editor
OUR LINCOLN
New perspectives on Lincoln and his world

Barry Schwartz
ABRAHAM LINCOLN IN THE POST-HEROIC ERA
History and memory in late twentieth-century America




2 comments:

  1. "Freedmen's Monument" cũng vẫn có nghĩa là những người được giải phóng chứ nhỉ, còn "unveiling" chắc là "khánh thành" thì đúng hơn "giới thiệu" :)

    http://query.nytimes.com/mem/archive-free/pdf?_r=1&res=9B05E1D9143AE63BBC4952DFB566838D669FDE

    ReplyDelete
  2. Vầng. Em sót cái Freedmen's Monument :D

    Còn em dị ứng với từ "khánh thành" (mà một mớ những từ kiểu vậy, nghe cứ âm âm cổ cổ thành ra formal quá) mà chưa tìm được từ thay thế.

    Mà bài này dụng công nhiều phết đấy anh ạ, nhặt sạn không xuể đâu hehe.

    ReplyDelete