31 May 2009

Di sản của Abraham Lincoln [P.1]

Vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kì có ý nghĩa gì đối với Obama và những người khác? Điểm những cuốn sách về Abraham Lincoln nhân 200 năm ngày sinh của ông. Dịch từ

Ngày 10 tháng Hai năm 2007, Barrack Obama khi đó còn là một nghị sĩ tương đối lạ lẫm ở thượng viện Mỹ đứng trên bậc của tòa statehouse bang Illinois. Đám đông hàng nghìn người chống chọi trước giá rét của mùa đông để nghe ông diễn thuyết. Mở đầu Obama hâm nóng bầu không khí bằng những mẩu chuyện đầy cảm hứng từ tiểu sử của mình. Đến thông điệp chính, ông nhắc đến một trong những chương chính yếu nhất trong lịch sử chính trị của nước Mỹ: "Trong bóng râm của tòa Old State Capitol, nơi Lincoln từng kêu gọi người dân trong ngôi nhà bị chia cắt (house divided: tên bài diễn văn của Lincoln – ND) đứng lại cùng với nhau, nơi những niềm hy vọng và giấc mơ chung luôn còn mãi, hôm nay tôi đứng trước các bạn để thông báo sự ứng cử của mình cho chức Tổng thống của nước Mỹ”. Khi đám đông chúc mừng và hô hào tên ông, Obama liên tục gợi lại những kí ức về Lincoln: sự trưởng thành từ một tầng lớp tầm thường của vị tổng thống thứ mười sáu, tính kiên trì, và sự tập trung không ngừng vào việc thống nhất lại đất nước bị chia rẽ bởi tình trạng áp bức dân nô lệ, bởi địa phương chủ nghĩa và sự ly khai ở phía Nam. Obama kết thúc bằng một sự tôn kính nữa với Lincoln – ám chỉ đến bài nói xuất sắc nhất của ông, the Grettyburg Address – khi kêu gọi những người ủng hộ sẽ giúp ông “mở ra sự khai sinh mới cho tự do trên Trái đất”.

Chưa đầy một năm sau, Ron Paul, dân biểu bang Texas, đã chỉ trích dưới ánh đèn của chương trình truyền hình Gặp gỡ báo chí. Phản đối cuộc chiến tranh Iraq và so sánh quyền lực liên bang với chính thể chuyên chế, khi đó Paul đang lãnh đạo đội ngũ hàng triệu người ủng hộ háo hức cho sự đổi thay mạnh mẽ, thứ gọi là cuộc Cách mạng Ron Paul. Ngài dân biểu mong muốn được đồng hành cùng những người ủng hộ theo thuyết tự do cho đến khi được bổ nhiệm vào cuộc chạy đua tổng thống của đảng Cộng hòa. Giữa cuộc phỏng vấn, nhà báo Tim Russert nói: “Tôi quan tâm đến nhận xét của ngài về Abe Lincoln.” Có vẻ như một năm trước đó Paul đã gây chú ý khi nói rằng “Abe Lincoln không bao giờ nên tiến hành chiến tranh”. Đó là cách đặt câu hỏi thường thấy của Russert, đưa ra một câu trích cá nhân nhằm làm lung lạc người trả lời và những tham vọng chính trị. Trong khi Russert chờ đợi Paul sẽ rút lại ý kiến thiếu chính thống của mình, vị dân biểu vẫn giữ vững quan điểm. Một mực cho rằng Lincoln đã tìm cách “từ bỏ mục tiêu ban đầu của Đảng Cộng hòa, bày ra quả đấm sắt của Washington”, Paul gọi cuộc Nội chiến là “vô nghĩa”.

Từ những cuộc tranh luận thẳng thắn hiếm thấy về sắc tộc và quyền công dân, cho đến những tranh cãi về ý nghĩa của lá cờ liên bang và mức độ quyền hạn của chính quyền bang, cho đến những nỗ lực không ngừng của Thượng nghị sĩ Obama nhằm khoác lên mình tấm áo của Lincoln, cuộc bầu cử năm 2008 cảnh báo sẽ đặt ra câu hỏi về di sản của vị tổng thống thứ mười sáu. Với kỉ niệm hai trăm năm ngày sinh của ông đang đến gần, và ngay sau đó là một trăm năm mươi năm cuộc chiến mà ông tiến hành, và với một người hoạt động lập pháp tương đối thiếu kinh nghiệm từ bang Illinois đến cuộc tranh cử, một người Mỹ gốc Phi tốt nghiệp ngành luật và là một thiên tài diễn thuyết hàng thế hệ mới sinh ra một người, có lẽ điều đó không có gì bất ngờ. Hàng mớ sách gần đây, nhân kỉ niệm hai trăm năm ngày sinh Lincoln, nhắc chúng ta rằng ngoài việc nó trùng với cuộc bầu cử lịch sử năm 2008, Lincoln vẫn thường được nhắc đến ở nước Mỹ. Bao nhiêu năm người Mỹ chiến đấu cho ý nghĩa mà Lincoln tạo nên; họ làm thế ngay cả khi ông còn sống. Và bóng dáng của Lincoln còn phủ vây cả nền văn hóa và chính trị Mỹ sau khi ông mất.

Đó là thời khắc mà các tác giả nhà Kunhardts, Philip III, Peter, và Peter Jr, dùng để mở đầu cho cuốn sách mới của họ, Looking for Lincoln, một truy vấn được minh họa đẹp mắt về nguồn gốc những giai thoại và kí ức về Abraham Lincoln. Đêm Good Friday ấy, ngày 14 tháng Tư năm 1865, Lincoln ngồi tại một ô riêng trong rạp hát Ford, Washington, xem màn ba của vở hát Người bà con Mỹ của chúng ta (Our American Cousin). John Wilkes Booth, một diễn viên bị ức chế bởi sự ủng hộ gần đây của ngài tổng thống cho quyền bầu cử của người Mỹ gốc Phi, lẻn vào khán phòng của Lincoln và bắn một viên đạn vào sau đầu ông. Sau khi nhảy xuống sân khấu và bị gãy một chân, Booth hô lớn khẩu hiệu của bang Virginia “Sic temper tyrannis!” [Nguyên văn tiếng Latin là Sic semper evello mortem Tyrannis, tức Thus always death comes to tyrants. - ND] Rồi hắn trốn thoát vào màn đêm. Ba vị bác sĩ thấy vậy liền chạy đến cứu ngài tổng thống, và họ quyết định đưa ngài sang bên đường đến một nhà trọ, nơi có một nhóm đông cầu nguyện suốt đêm. Lincoln mất vào sáng hôm sau.

Câu chuyện về cái chết của Lincoln, mặc dù được kể lại nhiều lần, vẫn có cảm giác như vết đau mới tấy lên. Tác động đó là do cách mà nhà Kunhardt đã sử dụng trong khắp cuốn sách. Họ bắt đầu các chương bằng việc kể lại chi tiết với chỉ một ít phân tích một sự kiện có tính biểu đạt nhiều năm sau cuộc ám sát, những thời điểm mà những kí ức quan trọng về Lincoln bén rễ vào nền văn hóa Mỹ. Rồi họ tổng hợp những lời kể ngắn gọn của các nhân chứng, trong đó có lời tuyên bố lạnh tanh của Trưởng bộ Quốc phòng War Edwin Stanton (Secretary of War, Bộ trưởng quốc phòng hiện nay – ND) ở chương mở đầu của cuốn sách: “Viên đạn găm vào sau đầu ngài tổng thống và xuyên qua gần hết sọ. Vết thương chết người”. Và đúng vậy. Bằng cách đó, nhà Kunhardt cho phép những diễn viên của lịch sử, nổi tiếng lẫn không nổi tiếng hay vô danh, được tự mình kể lại. Cuối cùng, một chuỗi đặc biệt những hình ảnh, tranh vẽ, những mảnh cắt từ báo chí, hoạt họa, tranh chụp, chắp vá những mảnh ghéo rời rạc của lịch sử thành một câu chuyện có hệ thống. Chẳng hạn một tấm hình lấm tấm hạt chụp căn phòng nơi Lincoln chết cho ta thấy mô-típ của chương đầu tiên. Một chiếc gối vấy máu, rất dễ bỏ qua trong cái liếc đầu tiên, một bức in phong cảnh được lồng trong khung treo phía trên chiếc giường gỗ, và một chiếc ghế trống, đi vào một trong những vụ giết người tai tiếng nhất của lịch sử.

Sau vụ ám sát, nhà Kunhardt đưa người đọc đến Easter Sunday năm 1865, khi những người thuyết giáo phương bắc bắt đầu so sánh Lincoln với chúa Giê-su; đến thành phố New York khi cùng năm đó một chàng trai trẻ tên là Teddy Roosevelt, người sau này sử dụng mô hình chính trị của Lincoln, chứng kiến cảnh đoàn tàu đưa tang; đến những studio của những nghệ sĩ và nhà điêu khắc, nơi những tác phẩm khắc lên hình ảnh của Lincoln – một gương mặt với đường nhăn sâu hoắm, một cơ thể to lớn với tứ chi dài khác người, và dĩ nhiên là chiếc mũ chóp đầy hình tượng – đi vào tâm khảm của dân tộc; đến lễ kỉ niệm một trăm năm ngày sinh Lincoln năm 1909, tổ chức ở cả miền Bắc và Nam; đến phòng riêng của những tác giả đã xuất bản tiểu sử của Lincoln cần thiết sự phán định của hậu thế, đến lễ khởi công tòa nhà tưởng niệm Lincoln ở Washington DC và tượng tạc tưởng niệm ông ở ngọn núi đá Rushmore ở Black Hills, South Dakota và cuối cùng là năm 1923 đến Thư viện Quốc hội, nơi Robert Lincoln, người lúc đó còn  gìn giữ một cách đố kị danh tiếng của cha mình, lật ra những trang tài liệu để hậu thế xem xét.

Bằng những cứ liệu đó, nhà Kunhardt đã chứng minh việc phân tách lịch sử ra khỏi kí ức về Lincoln là vô ích. Họ cũng nhấn mạnh vai trò to lớn mà người Mỹ gốc Phi, đặc biệt là Frederick Douglass, một tác giả và thuyết gia nổi tiếng theo chủ nghĩa bãi nô, đóng góp trong việc bảo tồn di sản của Lincoln. Trong cuốn sách xuất sắc của mình, The Radical and the Republican, James Oakes còn đi xa hơn, đưa ra luận điểm rằng Douglass và Lincoln có một mối quan hệ cộng sinh khi họ còn sống, ảnh hưởng đến quan điểm về chính trị và về thế giới của nhau. Sau khi Lincoln mất, Douglass trở thành một trong những quản gia quan trọng nhất của tòa kí ức về Lincoln. Trong cuốn sách của Oakes, Douglass và Lincoln cũng chia sẻ nhiều phẩm chất quan trọng: họ tự dựng nên sự nghiệp mà thành công nằm ở tài diễn thuyết. Nhưng họ dành phần lớn cuộc đời mình cho những mục tiêu khác biệt: Lincoln là một chính trị gia dấn thân, tập trung vào việc xây dựng một hợp chúng, trong khi Douglass là nhà cải cách quyết liệt. Mặc dù vậy, qua thời gian, Lincoln dần trở nên quyết liệt hơn, đặc biệt trong những vấn đề về chủng tộc, trong khi Douglass đi theo con đường chính trị. Hai người họ “gặp nhau trong thời điểm trọng yếu nhất của lịch sử Hoa Kì”.

Ban đầu Douglass để ý đến Lincoln khi ông có bài diễn thuyết House Divided năm 1858. Trong bài nói đó, Lincoln một mực cho rằng tự do và nô lệ không đi cùng với nhau, rằng chúng không thể tồn tại với nhau mãi trong biên giới nước Mỹ. “Chính phủ này”, ông nói, “không thể để mãi tình trạng nửa nô lệ nửa tự do … mà sẽ trở thành hoặc nô lệ cả hoặc tự do cả.” Rồi Lincoln tiên đoán rằng những tác động dẫn đến nền tự do “sẽ không thất bại”. Dùng quan điểm cổ điển của đảng Whig đã làm mẫu hình cho quan điểm của ông về lịch sử và tương lai đất nước, Lincoln cho rằng, “Nếu chúng ta đứng vững, chúng ta sẽ không sụp đổ. Những lời khuyên sáng suốt sẽ đẩy nhanh công cuộc đó, hoặc những sai lầm sẽ làm nó khựng lại, nhưng không sớm thì muộn thắng lợi chắc chắn sẽ đến”. Công cuộc đó hẳn sẽ mang đến một trang mới, quét đi chế độ nô lệ. Đọc những dòng đó, Douglass nhận ra rằng ông đã tìm thấy một tinh thần gần gũi. Tuy nhiên khi đó có hai vấn đề ngăn cho ông ca tụng Lincoln. Một là Douglass vẫn nghĩ rằng chính trị tất yếu sẽ làm hoen ố công cuộc cải cách. Và hai là sau đó Lincoln đã không tin tưởng rằng người Mỹ gốc Phi nên được hưởng toàn quyền công dân trước pháp luật.

(còn tiếp)




1 comment: