Phim Bridge of Spies của Spielberg có một cảnh
đáng nhớ khi Donovan mang radio vào xà lim của Apel để cả hai cùng nghe bản
concerto dương cầm của Shostakovich. Giữa gã điệp viên Liên Xô lọt vào tay địch
và luật sư bào chữa cho ông ta nảy sinh một mối đồng cảm về tự do, sự hiện hữu,
và cái va chạm tinh tế của tình người len lỏi qua kẽ hở âm nhạc. Thứ âm nhạc ấy,
một cách đầy hàm ý, là của Shostakovich, một nghệ sĩ cả đời bị ép uổng, giữa một
bên là sự thực hành âm nhạc đầy thuần khiết, một bên là sự xô lấn của tha hóa
và quyền lực.
Một người
hạnh phúc không bao giờ được sống quá lâu, đủ để gây người khác thất vọng, hoặc
cuộc đời gây thất vọng cho anh ta. Cuộc đời Shostakovich, được Julian Barnes ví
châm biếm và cay đắng, giống như con mèo kéo đuôi con vẹt xuống cầu thang và
con vẹt cứ bị đập đầu xuống theo từng bậc. Ác nghiệt hơn là ông không thể tự
sát (“Chỉ có cái chết mới giải phóng được âm nhạc của ông, giải phóng nó ra khỏi
cuộc đời ông”), ông thiếu một sự tôn trọng bản thân cần có mà việc tự sát đòi hỏi.
Bởi thế, chỉ còn cách sống dựa vào sự mỉa mai: “mỉa mai trở thành phương cách
phòng vệ cho bản ngã và tâm hồn” (tr. 173).
Shostakovich
khác với Prokofiev (người lớn lên dưới thời Sa hoàng và rời nước Nga ngay sau
cách mạng, sống ở nước ngoài hơn một thập niên trước khi trở về năm 1934), và
còn khác nữa với Stravinsky (người từ bỏ giá trị Xô Viết). Sống ở Liên Xô cho đến
cuối đời, Shostakovich từng giữ nhiều cương vị trong guồng máy và nhận nhiều
huân chương, nhưng mối quan hệ của ông với chính quyền không mấy suôn sẻ. Năm
1936 tờ Pravda từng công khai chỉ
trích vở opera Macbeth là “cuộn rối
chứ không phải âm nhạc”; năm 1948 Shostakovich bị dán mác chủ nghĩa hình thức
và nhạc của ông bị cấm lưu hành; đến năm 1962 là làn sóng chỉ trích bản giao hưởng
số 13, coi ông đại diện chủ nghĩa tiêu cực và sùng bái giá trị Tây phương lệch
lạc. Giữa sóng gió ở bên ngoài và bí bách trong tư tưởng, âm nhạc Shostakovich
mang một nét trào lộng cay đắng, một nỗi bi quan khó có thể hóa giải, nó xoáy
sâu, thẩm thấu và tiêm độc vào nội tâm, gạt bên ngoài những rối ren của thực tại.
Âm nhạc ấy nằm ngoài “nhiễu động của thời gian”, như nhan đề cuốn sách gợi ý.
Với nhiều
người, sự hà khắc và bạo quyền đã làm nhu nhược một thiên tài âm nhạc, hóa ông
thành bọt xà phòng, một con rối. Thời Stalin, đó là phép thử về phạm vi của
lòng can đảm, đến thời Khrushchev lại là phép thử về phạm vi của nỗi ươn hèn. Thứ
ưu ái mà bạo quyền dành cho ông là một sự cay nghiệt. “Có lẽ đây là một trong
những bi kịch mà cuộc đời vẽ ra cho chúng ta: định mệnh là khi về già, ta sẽ trở
thành thứ mà tuổi trẻ ta căm ghét nhất” (tr. 162). Julian Barnes lý giải về
tính hèn nhát: làm một anh hùng, ta chỉ cần lòng dũng cảm trong khoảnh khắc,
nhưng làm một kẻ ươn hèn, ta phải bám trụ vào sự nghiệp ươn hèn ấy đến cuối đời.
Làm ươn hèn là phải gan lỳ và cố chấp, phải kiên định, từ chối sự thay đổi, mà
hiểu như thế nghĩa là cần một thứ phẩm hạnh của lòng dũng cảm.
Liệu sự
chính trực và suy đồi có thể cùng tồn tại? Có thể, chúng tồn tại đầy nghịch lý
trong một hiện thực oái oăm nghịch lý. Nhưng đó lại là nơi chân lý phát sinh. Càng
gạ bán linh hồn cho quỷ, càng gần quỷ bao nhiêu, bản tính thiên tài càng bộc lộ.
Ở Shostakovich, đó là linh cảm về sự khoan thai tiến gần đến trạng thái mê ly,
nhập thần. Ở đó, âm nhạc được giải phóng ra khỏi cuộc đời đầy bất hạnh.
The Rite of Spring (Igor Stravinsky)
Trò chơi đón đầu
No comments:
Post a Comment