Các hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif) là một trong những truyện kể hay nhất về Cách mạng Pháp. Một tác phẩm kinh điển khác về đề tài này là A Tale of Two Cities của Charles Dickens. Nhưng khác ở chỗ, cuốn của Dickens trải rộng từ 1775, thời tiền cách mạng, đến tuốt về sau này (thời nào quên rồi), còn cuốn của Anatole France xoáy sâu vào thời kỳ Khủng bố (La Terreur), khi phái Jacobin của Robespierre cầm quyền, lê máy chém chém nhau rất kinh. Bìa bản tiếng Việt là bức tranh mô tả đoạn cuối thời kỳ này, khi chính Robespierre cũng bị đưa ra đoạn đầu đài. Ai thích giai đoạn này có thể xem phim Danton của Andrzej Wajda, Jean-Claude Carrière biên kịch. Nhân tiện giới thiệu cho công ty sách mới ra đời, Tao Đàn Book :)
Người cách mạng và lòng khoan dung
Anatole France lớn lên trong thư viện của cha mình. Cha ông, François-Noël Thibault (France là tên gọi thân mật của François), vốn là cai đội dưới thời vua Charles X. Bị thải hồi sau cách mạng tháng Bảy 1830, ông mở hiệu sách ở Paris mang tên France-Thibault, một kho văn thư về Cách mạng Pháp nhưng mang tinh thần bảo hoàng, là nơi lui tới của nhiều văn sĩ đương thời như anh em nhà Goncourt. Đắm mình từ nhỏ trong hiệu sách của cha, Anatole sớm nung nấu niềm hứng thú với sách vở và cuộc cách mạng, đề tài về sau trở thành bối cảnh cho nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, trong đó nổi tiếng nhất là Các hung thần lên cơn khát (Tao Đàn & NXB Văn Học, Trần Mai Châu dịch). Với một chàng trai rụt rè, thư viện ấy là nơi trú ẩn khỏi thế giới bên ngoài khốc liệt, vừa là chốn nương thân, vừa là tiểu vũ trụ. Ta thấy thấp thoáng hình ảnh nhân vật Maurice Brotteaux trong truyện.
Brotteaux từng là nhà quý tộc và công chức ngành thuế trong chế độ cũ của Louis XVI. Sau khi cách mạng lên ngôi, ông mất đi tước vị và phải làm những con rối để mưu sinh. Một hình ảnh đáng nhớ nằm ở chương XII, khi tay buôn đồ chơi Caillou từ chối món hàng của Brotteaux vì trước đó người của hội đồng an ninh đã cảnh báo mấy con rối là “phản cách mạng”, là trò trá hình bôi bác những Saint-Just và Robespierre. Thất thểu ra về, Brotteaux bày tỏ với nhà tu hành Longuemare, người ông từng cứu giúp khi xếp hàng mua bánh mì, rằng không chỉ ông mà cả những con rối cũng bị tình nghi, và đó mới là điều khốn nạn nhất: “Dưới tấm vải mỏng này, cha thấy không? Chúng nó đang ướt vì mưa, cái mưa chết tiệt làm chúng ta chết cóng” (tr. 137).
Thử đối chiếu với cuộc đời Anatole France. Khi trở thành một người ủng hộ Dreyfus, đứng về phía Émile Zola trong vụ luận chiến gây chấn động nước Pháp, Anatole France mới thấy rằng thật khó biết bao nhiêu để có được sự lãnh đạm của bậc thức giả giữa tiếng la ó của đám đông cuồng loạn. Lòng trong sáng và sự vô tư không có chỗ tồn tại, giống như những con rối của ông Brotteaux. Giữa cơn hỗn loạn xã hội, Brotteaux không bao giờ rời tập thơ Lucrèce trong túi áo, kể cả khi chờ mua bánh mì hay trước lúc ra đoạn đầu đài. Với ông, Lucrèce-nhà thơ u buồn vừa là chốn nương thân, vừa là tiểu vũ trụ.
Brotteaux là hiện thân của con người lãng mạn và công chính. Những con rối mang một giá trị châm biếm. Chúng là niềm an ủi của Brotteaux và là gương soi cho sự ngu muội hẹp hòi của những kẻ Jacobin thuần thành, là minh họa rõ ràng nhất rằng con người, chính họ cũng bị biến thành trò hề và bị chòng ghẹo bởi hơi thổi của lịch sử. Brotteaux chứng kiến thế giới ông đang sống bằng sự lãnh đạm. Lòng khoan dung của ông đối nghịch với tinh thần cách mạng cứng nhắc của những người sùng bái Robespierre như Évariste Gamelin. Tác giả không nói ra, nhưng đã ngầm ý, bằng câu nói của Brotteaux, rằng những người phủ nhận máy chém mới là những nhà cách mạng thực thụ: “cai trị con người đúng với thực trạng của họ chứ không phải con người ta muốn họ trở thành” (tr. 112). Cái nhìn ấy gần với thông điệp từ bộ phim Danton (1983) của Andrzej Wajda, khi đạo diễn Ba Lan chọn Danton, thay vì Robespierre, làm nhân vật trung tâm của cuộc cách mạng. Cổ vũ cho chính thể cộng hòa, Danton ban đầu tin rằng bạo lực là cần thiết cho những thay đổi cấp tiến, nhưng khi bản thân cuộc cách mạng đi theo đường lối cực đoan, chính Danton cực lực phản đối hình thức khủng bố bằng máy chém của nhóm Robespierre cai trị.
Trọng tâm cuốn sách, như nhan đề gợi ý, là những năm tháng đen tối khi phái Jacobin nắm quyền và lê máy chém hạ sát người chống đối. Camille Desmoulins đã mô tả giai đoạn đó như thể “các hung thần đang khát máu”. Điển hình là nhân vật chính trong truyện, Évariste Gamelin, một họa sĩ nghiệp dư có chân trong hội thẩm tòa án cách mạng. Sốt sắng và thừa nhiệt huyết, anh trở thành một công cụ máu lạnh, không thể hóa giải của cỗ máy bạo lực mang tên nhà nước, được tác giả ngầm khắc họa như một sự xuẩn ngốc tập thể đầy ghê tởm. Anatole France cũng rất khéo châm biếm. Khi Robespierre bị lật đổ, hai thường dân kháo nhau: “Chị được tin chưa? Nhà hát nhạc kịch đã được thiết lập ở phố Luật pháp” (tr. 248) [*]. Những câu chuyện rất đỗi ngày thường lại có tính chuyển giao thời cuộc, còn các khái niệm lớn lao như tự do và công lý có lúc chỉ giống những ngôn từ rỗng không và lạnh toát trong nhà hát kịch.
-=-=
[*] Nhà hát nhạc kịch nhắc đến ở đây là Opéra de la rue de Richelieu (thời cách mạng Pháp có tên rue de la Loi). Nhà hát này, nằm ở góc rue de la Loi và rue Louvois, được Mlle Montansier và Honoré Bourdon xây và khánh thành năm 1793 với tên Théâtre-National, về sau bị đập, nay là quảng trường Louvois.
Opéra Garnier danh tiếng nhiều người biết chỉ là một phần trong lịch sử phức tạp của Opéra de Paris hay viện nhạc kịch hoàng gia (Académie royale de musique), vốn trải qua nhiều lần di dời và chuyển đổi. Quay lại về chế độ cũ thời trước cách mạng Pháp, năm 1789, Pierre-Charles Laurent de Villedeuil, tổng thanh tra tài chánh, gửi thư cho Louis XVI, nói rằng Opéra de Paris phải luôn được xem là một cơ sở chính trị, nhờ vào tính ganh đua cầu thị trong nghệ thuật, tính toàn mỹ của thị hiếu mà nó đóng góp. Nhà hát này không chỉ là việc kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận mà còn là một công trình liên quan đến thanh danh của quốc gia Pháp… Song, đến năm 1789, Paris chứng kiến một cuộc cách mạng khiến cho các giá trị bị đảo lộn, tư sản lớp dưới lật đổ quý tộc, tinh thần bảo hoàng không còn chỗ đứng. Mặc dầu những người làm cách mạng tuyên bố cắt đứt với quá khứ và họ đang trong quá trình xây dựng một khởi đầu mới, chúng ta-nhìn chung là con người- vẫn bị hạn chế bởi những gì ta có thể bảo quát, bị chế định bởi kinh nghiệm sống, các ký ức, cách nhìn về thế giới, và bản thân những đặc tính này đều phát sinh từ những “cái cũ” (quan niệm về tính liên tục của Alexis de Tocqueville). Nhìn từ phía những người vừa phá ngục Bastille thì Opéra de Paris đứng vào hàng phù phiếm nhất trong các thể loại phù phiếm, mang các tính chất mà Cách mạng đã và đang luôn tìm cách cự tuyệt: sự xa xỉ, tính tinh hoa (elite) và một thẩm mỹ tách rời khỏi cái thường ngày, một sân khấu mang kèm tiêu chuẩn đạo đức của tầng lớp công chúng thị dân-tư sản [bourgeois]. Nhiều định chế thuộc về tinh hoa của chế độ cũ bị dẹp bỏ, như viện Hàn lâm Hội hoạ và Điêu khắc Hoàng gia (Académie Royale de Peinture et de Sculpture) rất nổi tiếng, phải đóng cửa năm 1793. Điều thần tình của Opéra de Paris là không chỉ tránh bị đóng cửa và thu hút được nguồn tài trợ từ nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi, mà còn tự định danh như là nhà hát “quốc gia”, đóng một vai trò “định hình” trong giáo dục dân sự thông qua âm nhạc và kịch nghệ. Hiểu ngắn gọn, Opéra de Paris đã có một cuộc điều-đình thần-thánh cho một sự chuyển đồi từ một định chế văn hoá của Chế độ Cũ sang một nhà hát tầm quốc gia trong giai đoạn Cách mạng. Trở lại câu nói trích ở trên (- Connaissez-vous la nouvelle? L'Opéra est installé rue de la Loi.), nó có gì đó mang tính dự báo, rất gần với một câu người ta hay nói đùa bây giờ, “Công lý chỉ là một diễn viên hài”.
Người cách mạng và lòng khoan dung
Anatole France lớn lên trong thư viện của cha mình. Cha ông, François-Noël Thibault (France là tên gọi thân mật của François), vốn là cai đội dưới thời vua Charles X. Bị thải hồi sau cách mạng tháng Bảy 1830, ông mở hiệu sách ở Paris mang tên France-Thibault, một kho văn thư về Cách mạng Pháp nhưng mang tinh thần bảo hoàng, là nơi lui tới của nhiều văn sĩ đương thời như anh em nhà Goncourt. Đắm mình từ nhỏ trong hiệu sách của cha, Anatole sớm nung nấu niềm hứng thú với sách vở và cuộc cách mạng, đề tài về sau trở thành bối cảnh cho nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, trong đó nổi tiếng nhất là Các hung thần lên cơn khát (Tao Đàn & NXB Văn Học, Trần Mai Châu dịch). Với một chàng trai rụt rè, thư viện ấy là nơi trú ẩn khỏi thế giới bên ngoài khốc liệt, vừa là chốn nương thân, vừa là tiểu vũ trụ. Ta thấy thấp thoáng hình ảnh nhân vật Maurice Brotteaux trong truyện.
Brotteaux từng là nhà quý tộc và công chức ngành thuế trong chế độ cũ của Louis XVI. Sau khi cách mạng lên ngôi, ông mất đi tước vị và phải làm những con rối để mưu sinh. Một hình ảnh đáng nhớ nằm ở chương XII, khi tay buôn đồ chơi Caillou từ chối món hàng của Brotteaux vì trước đó người của hội đồng an ninh đã cảnh báo mấy con rối là “phản cách mạng”, là trò trá hình bôi bác những Saint-Just và Robespierre. Thất thểu ra về, Brotteaux bày tỏ với nhà tu hành Longuemare, người ông từng cứu giúp khi xếp hàng mua bánh mì, rằng không chỉ ông mà cả những con rối cũng bị tình nghi, và đó mới là điều khốn nạn nhất: “Dưới tấm vải mỏng này, cha thấy không? Chúng nó đang ướt vì mưa, cái mưa chết tiệt làm chúng ta chết cóng” (tr. 137).
Thử đối chiếu với cuộc đời Anatole France. Khi trở thành một người ủng hộ Dreyfus, đứng về phía Émile Zola trong vụ luận chiến gây chấn động nước Pháp, Anatole France mới thấy rằng thật khó biết bao nhiêu để có được sự lãnh đạm của bậc thức giả giữa tiếng la ó của đám đông cuồng loạn. Lòng trong sáng và sự vô tư không có chỗ tồn tại, giống như những con rối của ông Brotteaux. Giữa cơn hỗn loạn xã hội, Brotteaux không bao giờ rời tập thơ Lucrèce trong túi áo, kể cả khi chờ mua bánh mì hay trước lúc ra đoạn đầu đài. Với ông, Lucrèce-nhà thơ u buồn vừa là chốn nương thân, vừa là tiểu vũ trụ.
Brotteaux là hiện thân của con người lãng mạn và công chính. Những con rối mang một giá trị châm biếm. Chúng là niềm an ủi của Brotteaux và là gương soi cho sự ngu muội hẹp hòi của những kẻ Jacobin thuần thành, là minh họa rõ ràng nhất rằng con người, chính họ cũng bị biến thành trò hề và bị chòng ghẹo bởi hơi thổi của lịch sử. Brotteaux chứng kiến thế giới ông đang sống bằng sự lãnh đạm. Lòng khoan dung của ông đối nghịch với tinh thần cách mạng cứng nhắc của những người sùng bái Robespierre như Évariste Gamelin. Tác giả không nói ra, nhưng đã ngầm ý, bằng câu nói của Brotteaux, rằng những người phủ nhận máy chém mới là những nhà cách mạng thực thụ: “cai trị con người đúng với thực trạng của họ chứ không phải con người ta muốn họ trở thành” (tr. 112). Cái nhìn ấy gần với thông điệp từ bộ phim Danton (1983) của Andrzej Wajda, khi đạo diễn Ba Lan chọn Danton, thay vì Robespierre, làm nhân vật trung tâm của cuộc cách mạng. Cổ vũ cho chính thể cộng hòa, Danton ban đầu tin rằng bạo lực là cần thiết cho những thay đổi cấp tiến, nhưng khi bản thân cuộc cách mạng đi theo đường lối cực đoan, chính Danton cực lực phản đối hình thức khủng bố bằng máy chém của nhóm Robespierre cai trị.
Trọng tâm cuốn sách, như nhan đề gợi ý, là những năm tháng đen tối khi phái Jacobin nắm quyền và lê máy chém hạ sát người chống đối. Camille Desmoulins đã mô tả giai đoạn đó như thể “các hung thần đang khát máu”. Điển hình là nhân vật chính trong truyện, Évariste Gamelin, một họa sĩ nghiệp dư có chân trong hội thẩm tòa án cách mạng. Sốt sắng và thừa nhiệt huyết, anh trở thành một công cụ máu lạnh, không thể hóa giải của cỗ máy bạo lực mang tên nhà nước, được tác giả ngầm khắc họa như một sự xuẩn ngốc tập thể đầy ghê tởm. Anatole France cũng rất khéo châm biếm. Khi Robespierre bị lật đổ, hai thường dân kháo nhau: “Chị được tin chưa? Nhà hát nhạc kịch đã được thiết lập ở phố Luật pháp” (tr. 248) [*]. Những câu chuyện rất đỗi ngày thường lại có tính chuyển giao thời cuộc, còn các khái niệm lớn lao như tự do và công lý có lúc chỉ giống những ngôn từ rỗng không và lạnh toát trong nhà hát kịch.
-=-=
[*] Nhà hát nhạc kịch nhắc đến ở đây là Opéra de la rue de Richelieu (thời cách mạng Pháp có tên rue de la Loi). Nhà hát này, nằm ở góc rue de la Loi và rue Louvois, được Mlle Montansier và Honoré Bourdon xây và khánh thành năm 1793 với tên Théâtre-National, về sau bị đập, nay là quảng trường Louvois.
Opéra Garnier danh tiếng nhiều người biết chỉ là một phần trong lịch sử phức tạp của Opéra de Paris hay viện nhạc kịch hoàng gia (Académie royale de musique), vốn trải qua nhiều lần di dời và chuyển đổi. Quay lại về chế độ cũ thời trước cách mạng Pháp, năm 1789, Pierre-Charles Laurent de Villedeuil, tổng thanh tra tài chánh, gửi thư cho Louis XVI, nói rằng Opéra de Paris phải luôn được xem là một cơ sở chính trị, nhờ vào tính ganh đua cầu thị trong nghệ thuật, tính toàn mỹ của thị hiếu mà nó đóng góp. Nhà hát này không chỉ là việc kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận mà còn là một công trình liên quan đến thanh danh của quốc gia Pháp… Song, đến năm 1789, Paris chứng kiến một cuộc cách mạng khiến cho các giá trị bị đảo lộn, tư sản lớp dưới lật đổ quý tộc, tinh thần bảo hoàng không còn chỗ đứng. Mặc dầu những người làm cách mạng tuyên bố cắt đứt với quá khứ và họ đang trong quá trình xây dựng một khởi đầu mới, chúng ta-nhìn chung là con người- vẫn bị hạn chế bởi những gì ta có thể bảo quát, bị chế định bởi kinh nghiệm sống, các ký ức, cách nhìn về thế giới, và bản thân những đặc tính này đều phát sinh từ những “cái cũ” (quan niệm về tính liên tục của Alexis de Tocqueville). Nhìn từ phía những người vừa phá ngục Bastille thì Opéra de Paris đứng vào hàng phù phiếm nhất trong các thể loại phù phiếm, mang các tính chất mà Cách mạng đã và đang luôn tìm cách cự tuyệt: sự xa xỉ, tính tinh hoa (elite) và một thẩm mỹ tách rời khỏi cái thường ngày, một sân khấu mang kèm tiêu chuẩn đạo đức của tầng lớp công chúng thị dân-tư sản [bourgeois]. Nhiều định chế thuộc về tinh hoa của chế độ cũ bị dẹp bỏ, như viện Hàn lâm Hội hoạ và Điêu khắc Hoàng gia (Académie Royale de Peinture et de Sculpture) rất nổi tiếng, phải đóng cửa năm 1793. Điều thần tình của Opéra de Paris là không chỉ tránh bị đóng cửa và thu hút được nguồn tài trợ từ nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi, mà còn tự định danh như là nhà hát “quốc gia”, đóng một vai trò “định hình” trong giáo dục dân sự thông qua âm nhạc và kịch nghệ. Hiểu ngắn gọn, Opéra de Paris đã có một cuộc điều-đình thần-thánh cho một sự chuyển đồi từ một định chế văn hoá của Chế độ Cũ sang một nhà hát tầm quốc gia trong giai đoạn Cách mạng. Trở lại câu nói trích ở trên (- Connaissez-vous la nouvelle? L'Opéra est installé rue de la Loi.), nó có gì đó mang tính dự báo, rất gần với một câu người ta hay nói đùa bây giờ, “Công lý chỉ là một diễn viên hài”.
No comments:
Post a Comment