21 Mar 2014

Một phương Đông và một phương Tây khác

Sẽ là nhận định sáo mòn nếu bảo rằng văn học là tấm gương soi thế giới. Nhưng sẽ hợp lý hơn nếu nói việc mê đắm một tác phẩm văn chương là hành trình về những thế giới mà ta chưa được biết. Đôi khi những cuốn sách đưa ta vào một cương vực ly kỳ, lạ lẫm, nơi không gian và thời gian có độ đàn hồi rất khác với những gì mang tính quy tắc ta trải qua ở thực tại. Tái hiện những thời kỳ bị lãng quên, mang cho người đọc cảm giác về tính hão huyền của thế giới và nỗi buồn nhớ sự sáng tạo, đó là tham vọng tri thức của hai tác giả đương thời thuộc vào hàng uyên bác nhất: Salman Rushdie và Umberto Eco.

Sự giao thoa giữa chủ nghĩa nhân đạo “cung đình” và đại chúng

Nàng phù thủy thành Florence (Nguyễn Thị Hiền Thảo dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn) đưa người đọc về thế kỷ XVI, tái dựng hai thành phố đều đang ở đỉnh cao sự thịnh vượng: thủ phủ Fatehpur Sikri của đế chế Mughal hùng mạnh, nơi Akbar đại đế hàng ngày trăn trở về đức tin, tình yêu vĩnh cửu giữa những âm mưu tiếm quyền; và Florence hoa lệ, tràn ngập ái tình, nơi có một Niccolò Machiavelli đang đau đáu về thuyết cai trị hung bạo giữa những chìm nổi quyền lực của dòng họ Medici.

Đời sống hai vương triều ở hai bờ Đông-Tây khá tương đồng mặc dù sự giao thiệp còn hạn chế. Nước Ý thời Phục hưng là nơi tư tưởng nhân văn xung khắc với tinh thần tôn giáo thủ cựu, lối sống xa hoa buông thả không che đậy được uế khí của mầm mống dịch bệnh. Còn Fatehpur Sikri dưới thời hoàng đế Akbar nằm ở sự giao thoa giữa chủ nghĩa nhân đạo “cung đình” và đại chúng, tuy gò bó trong sự uy nghi cứng nhắc của triều đình nhưng vẫn huyền hoặc và nên thơ, vẫy vùng trí tưởng tượng. Salman Rushdie đặt cạnh nhau hai thế giới hư ảo như hai ảnh đối xứng qua gương.

Tác giả xử lý thời gian khéo léo, gắn kết những mẩu hội thoại qua nhiều triều đại mà vẫn giữa được tính mạch lạc, xuyên suốt. Giai thoại về Qara Koz, hay Tiểu thư Mắt đen được kể qua lời lữ khách trẻ Mogor dell'Amore khi anh diện kiến Akbar, tự nhận mình, nàng và nhà vua có mối quan hệ thân thích. Cũng như Akbar, người đọc sẽ phải quyết định liệu mình có nên tin câu chuyện này hay không. Trong những năm lưu lạc, từ công chúa Mughal trở thành phù thủy Ba Tư, cho đến Angelica thành Florence, nàng tạo ra cảnh hoang tàn khắp những nơi mình đến, nhưng đó cũng là cách nàng định đoạt số phận trong thế giới thống trị của đàn ông.

Đó là nơi đàn ông phô trương và phụ nữ có rất ít quyền lực. Tiểu thư Mắt đen có cả hai vũ khí: sức mạnh của nhan sắc và của yêu thuật. Ở châu Âu thời Phục hưng, quan niệm về “phù thủy” đã thay đổi. Trước đó, phù thuỷ luôn được mô tả là bà lão quỷ quyệt ẩn náu cùng mớ chai lọ và vạc dầu sôi. Nhưng đến bấy giờ người ta lại quan niệm phù thủy là một nhan sắc hoàn mỹ có khả năng bỏ bùa mê thuốc lú. Đó cũng là lý do ở vương quốc Mughal và thành Florence, tình dục được mô tả như một hình thức ca tụng: cả trong và ngoài hôn nhân, ở nhà thổ, trong những khoảnh khắc mê ly xuất thần. Những bản toát yếu tình dục như Kama Sutra thịnh hành tại Ấn Độ trong giai đoạn này cũng không quá khó hiểu.

Tài xâu chuỗi, pha trộn những câu chuyện của Salman Rushdie – nhà văn Anh gốc Ấn Độ từng đối mặt với án tử hình vắng mặt của người Hồi giáo vì báng bổ thế giới của họ – bắt rễ từ kho tàng văn học truyền thống nơi ông lớn lên, nhất là Nghìn lẻ một đêm của người Arập với những Sinbad, Ali Baba, Aladdin, Hatim al-Tai... Với nhạy cảm phương Đông mãnh liệt, cách kể chuyện của Rushdie tiến rất gần tới văn học dân gian.

Lấy bối cảnh sớm sủa hơn, tại một tu viện miền Bắc nước Ý vào thế kỷ XIV, Tên của đoá hồng (Lê Chu Cầu dịch, Nhã Nam & NXB Văn Học) là tiểu thuyết lịch sử xen lẫn trinh thám của Umberto Eco. Theo lời ngỏ của tu viện trưởng Abo, sư huynh William xứ Baskerville, một cựu phán quan, cùng đồ đệ Adso (đóng vai người kể chuyện) bắt tay vào tìm hiểu nguyên nhân kỳ bí dẫn đến cái chết của tu sĩ Adelmo và gieo rắc xui rủi vào tu viện. Hàng loạt cái chết bất thường xảy ra trong bảy ngày sau đó, mở ra mối xung khắc giữa những người đồng đạo. Nguyên nhân bề mặt là sự bất hoà giữa hai dòng tu: nếu như dòng Francisco kêu gọi tu sĩ noi theo lối sống khổ hạnh và khiêm nhường của Chúa, dòng Dominic lại chủ trương truyền giáo và hướng ngoại.

Nhưng sâu xa hơn, đằng sau cuộc tranh luận liên tu bất tận giữa những người ủng hộ giáo luật dòng Francisco và những người chỉ trích là bóng ma mập mờ của kẻ Phản Chúa, sinh ra từ chính lòng mộ đạo và lòng yêu chân lý quá mức. William vén màn chân tướng bằng cách mổ xẻ logic nhưng chỉ chạm gần đến đích. Kẻ sát nhân không tuân theo một kế hoạch nào, mọi tác nhân đều tự diễn tiến, đẩy đến một kết cục không ai ngờ. Quan niệm về “tiếng cười nhạo” của Aristotle cũng là manh mối giải đáp của vụ án mạng hàng loạt, chỉ ra chân lý duy nhất của con người “là học cách giải thoát chúng ta khỏi sự điên cuồng đam mê chân lý” (tr. 536).

Vào thời Trung cổ, nghịch lý thay, các tu viện lại là nơi duy nhất ở châu Âu khuyến khích nghiên cứu các văn bản Kinh thánh để tìm kiếm ý nghĩa ẩn giấu. Tu viện giống như ngọn đèn leo lắt trong bóng tối mụ mẫm, vừa là chốn chôn chân vừa là nơi giải thoát người ta khỏi sự mê muội. Đó là kết cục “kép” của tu viện trong cuốn tiểu thuyết của Umberto Eco, được người kể chuyện mệnh danh là thư viện vĩ đại nhất của thế giới phương Tây. Bên cạnh đó là sự bất lực của sư huynh William, một cựu phán quan của tòa án dị giáo, là bậc uyên thâm cổ học nhưng không thể lay chuyển sự vô trật tự của thế giới, thay đổi dung mạo méo mó của sự thật hay tính hão huyền của chân lý.

Cả hai tác phẩm đều dung nạp lượng kiến thức đồ sộ và kết hợp nhiều phong cách. Nếu như Nàng phù thủy thành Florence pha trộn giữa văn học cung đình Hồi giáo, anh hùng ca Ba Tư, văn học dân gian thời tiền Hồi giáo (như Nghìn lẻ một đêm), và thể loại chương hồi (maqāma của người Arập, sau này ảnh hưởng rõ lên văn học Tây Ban Nha như Don Quixote), thì Tên của đoá hồng là sự kết hợp những nghiên cứu chuyên sâu về Kinh thánh, lịch sử giáo hội, mỹ học Trung cổ, lý thuyết ký hiệu và mật mã... Đức tin có thể thay đổi, phục dựng, tái thẩm định, có thể là điểm nương tựa của nền văn minh nơi nó thổi vào luồng sinh khí, nhưng nền văn minh nào rồi cũng có lúc ngừng tỏa sáng, chỉ có những bản văn, chứng thư của tri thức, là mãi tồn tại.

Hai tiểu thuyết của Salman Rushdie và Umberto Eco cho thấy một phương Đông và một phương Tây khác. Thế kỷ XIV là giai đoạn đầy tai ương ở châu Âu với nạn đói, chiến tranh, bệnh dịch hạch, giáo hội bị xói mòn trong suốt chế độ giáo hoàng ở Avignon. Còn cuối thế kỷ XV-đầu XVI lại là thời điểm rực rỡ của nền văn minh Hồi giáo, chứng kiến sự ra đời của ba nhà nước lớn: vương triều Mughal ở Ấn Độ, triều đại Safavid ở Ba Tư (tức Iran ngày nay) và đế chế Ottoman ở Anatolia – nhà nước Hồi giáo hùng mạnh nhất với sự nở rộ về kiến trúc, nghệ thuật.

Hai thế giới tuy khác biệt nhưng cùng thuộc vòng bánh xe của lịch sử. Văn hóa Hồi giáo, hiện lên sống động trong Nàng phù thủy thành Florence, từng tác động mạnh mẽ lên một châu Âu đang trở mình ở thời Trung cổ, tạo điều kiện cho phong trào Phục hưng ra đời. Còn những lời tranh cãi và lăng mạ đạo đức trong Tên của đoá hồng rồi sẽ dẫn đến một sự chỉ trích rộng khắp, khởi xướng cho phong trào Cải cách Tin lành. Tất cả sự phát triển ấy làm thay đổi tận gốc rễ đời sống văn hóa, xã hội của phương Đông và phương Tây, làm phong phú thêm kinh nghiệm của con người, phản ứng lại một cuộc sống bị cưỡng ép chỉ nhằm hướng đến sự cứu rỗi linh hồn. Giúp người đọc đón nhận thêm một cách hiểu và trân trọng những “thế giới khác", ấy là vai trò lặng lẽ và chính đáng của văn học. Và sẽ chẳng ngoa khi bảo rằng những tác phẩm ấy là tấm gương soi thế giới.

Bài liên quan :

No comments:

Post a Comment