Chống Xê mít và phân biệt chủng tộc là những đề tài chưa bao
giờ mất tính thời sự, nhất là ở châu Âu, nơi hội tụ với mật độ cao những chuyển
dịch về sắc tộc. Căn tính của liên minh EU chưa lúc nào thôi được chất vấn, đặc
biệt là tính nhất thể của nó khi mà luôn tồn tại những khu vực ngoại vi – từ những
mô hình “hoàn thiện” hơn như Bắc Âu, Thụy Sĩ, đến những cá biệt nhưng không
hoàn toàn là cá thể ở bên rìa, như người Rom, như Romania và Bulgaria ở thị trường
lao động. Những vấn đề này bồi tụ vào cái gọi là “chủ nghĩa dân tộc” ở Pháp, tạo
nên những chia rẽ “sôi nổi”, mang tính xây dựng, trong nền văn hóa débat của họ.
Sự vụ bài Do Thái của diễn viên hài Dieudonné tạo nên một “thế hệ Dieudonné” –
thế hệ trẻ, bất kể thuộc phe nào, hơn lúc nào hết mong muốn truy tầm căn nguyên lịch sử, của vấn đề bài Do Thái, gốc rễ khái niệm dân chủ, mô hình nhà nước, dưới hình thức chân phương nhất là ý niệm về tự do cá nhân.
Trên
mặt phẳng tranh luận đó, vô tình, có sự tiệm cận của học thuật, nói đúng hơn,
vành đai hẹp của triết học: vấn đề Heidegger ở Pháp và tư tưởng chống Xê mít.
Tháng 3.2014, tập cuối bộ Gesamtausgabe,
toàn tập Heidegger sẽ ra mắt tại Đức, hẳn sẽ là mỏ khai phá cho giới phê bình học
thuật và báo chí Pháp, vốn đã xao động từ cuối năm 2013 với cuốn Dictionnaire Martin Heidegger (1440 trang).
Trong bài dưới đây, đăng trên tạp chí Prospect (Anh), Jonathan Derbyshire lược
thuật một giai đoạn bấp bênh trong sự nghiệp của tác giả Hữu thể và thời gian, lý giải phần nào sức ảnh hưởng của ông tại
Pháp thời hậu chiến mặc cho những tranh cãi về vị thế, và sâu hơn là tư tưởng,
chống Xê mít của ông dưới biểu hiện là sự thân cận đảng Quốc Xã Đức (cần lý giải
chỗ này để trung hòa khái niệm trong ngôn ngữ tiếng Việt: Nazi là viết tắt tiếng
Đức của đảng National Socialism, tức Quốc gia-Xã hội, gọi tắt là Quốc Xã – hoàn
toàn trung tính về mặt ngôn ngữ). Về phương diện cá nhân, tôi thấy tin tưởng
Jonathan Derbyshire hơn là những nhân vật đình đám như Christopher Hitchens hay
một phần Richard Dawkins, dù họ đều ủng hộ vô thần.
--
Heidegger ở Pháp: Chủ nghĩa Quốc Xã và triết thuyết
Một đặc tính riêng biệt của đời sống trí thức Pháp thời hậu
chiến là sức ảnh hưởng của triết gia Đức Martin Heidegger (1889-1976). Vị thế của
Heidegger giữa các triết gia Pháp, nhất là những ai trong truyền thống hiện tượng
học (đông đảo ở Pháp hơn bất cứ đâu ở châu Âu, không kể giới Anglophone), rất
mâu thuẫn với tiếng tăm tại đất nước ông sinh ra, nơi di sản của ông bị ô uế
không thể tẩy xóa do những thỏa hiệp về chính trị của ông với đảng Quốc Xã (Nazi)
Đức vào những năm 1930.
Tinh chất và mức độ của những thỏa hiệp ấy vẫn là mối tranh
cãi – không chỉ ở Pháp, nơi đề tài u ám về tư cách chính trị của Heidegger từng
làm chia rẻ giới trí thức trong gần một thập niên. Đầu tháng 12.2013, Nicolas
Weil, ký giả Le Monde, viết trên blog
rằng tập cuối bộ Heidegger toàn tập (Gesamtausgabe),
sẽ được xuất bạn tại Đức tháng 3.2014, hứa hẹn một lời đáp rốt ráo cho câu hỏi:
“liệu Heidegger là một trí thức lầm lạc vì ý muốn quyền lực nhất thời hay lộ
trình chính trị của ông phản ánh một khuynh hướng sâu sắc hơn thế”.
Eric Aeschimann, viết trên Le Nouvel Observateur, cho biết rằng tác phẩm Schwarzen Hefte (“Sổ chép đen”) sẽ khuấy động ngay cả những người ủng
hộ trung thành nhất của ông ở Pháp. Sau đó, biên tập viên của sổ chép, Peter
Trawny [giáo sư đại học Bergische và giám đốc viện Martin-Heidegger tại
Wuppertal, có một phần tiểu luận được dịch trên Le Monde số hôm nay], viết một tiểu luận nhan đề “Heidegger: ‘Sổ chép đen’ và thuyết chống
Xê mít ‘diễn sử’ [tạm dịch từ historial hay seinsgeschichtlicher]” (“historial”
là một trong những thuật ngữ tự sáng chế mà bản thân Heidegger và những người
theo ông ưa thích) trong đó Trawny lập luận rằng những bản thảo này, được viết
từ 1931-1946, chứa đựng những ý tưởng “chống Xê mít rất rõ, bất kể chống Xê mít
có phải thứ được ý hệ Quốc Xã quảng bá hay không.” Một trong người dịch
Heidegger tại Pháp, Hadrien France-Lanord, đã đọc tiểu luận của Trawny và cho
biết chính mình cũng bị mất tinh thần khi đọc các trích đoạn từ sổ chép được dẫn
trong bài viết. Aeschimann viết rằng, chúng ta đang đứng bên bờ một “sự vụ Heidegger”
mới.
Lần cuối cùng câu hỏi về thái độ chính trị của Heidegger được
bàn luận công khai tại Pháp là vào tháng 6.2005, khi một số nhà triết học và sử
học có tiếng viết một lá thư công khai cho Le
Monde, bày tỏ sự ủng hộ với Emmanuel Faye, người viết quyển Heidegger – L’introduction du nazisme dans
la philosophie (“Heidegger – Dẫn nhập chủ nghĩa Quốc Xã trong triết học”),
đã thu hút lượng ủng hộ đáng kể trên báo chí. Những người kí tên (bao gồm Jacques
Bouveresse, Pierre Vidal-Naquet và Serge Klarsfeld) phản đổi cách những người họ
gọi là “theo Heidegger triệt để” [“radical Heideggerians”] hạ bệ cuốn sách của
Faye “trên mọi phương diện”, kể cả tấn công tác giả trên trang web do nhà văn Stéphane
Zagdanski sáng lập. “Chúng tôi không chấp nhận những cách thức đáng hổ thẹn đó,”
họ viết, “và tin rằng cần thực hiện việc nghiên cứu kĩ càng hơn về mối quan hệ
giữa tác phẩm của Heidegger và chủ nghĩa Quốc Xã.”
François Fédier, người dịch chính Heidegger tại Pháp và là bạn
của Zagdanski, ám chỉ đầy nhạo báng Faye đang thực hiện “việc gia đình”. Năm
1966, Fédier viết một bài báo bảo vệ Heidegger trước những lời tố trong vài cuốn
sách ở Đức, gây ra kha khá hồi đáp, bao gồm từ Jean-Pierre, cha của Faye. 20
năm sau, một cuộc cãi vã còn căng thẳng hơn nổ ra vào thời điểm xuất bản cuốn Heidegger et le nazisme, tác giả là Chilean
Victor Farias, học trò cũ của Heidegger. Những chuyện Farias gom lại trong cuốn
sách vốn đã được biết đến, chủ yếu nhờ công lưu trữ của hai học giả Đức Hugo
Ott và Guido Schneeberger, còn cách đánh giá của ông về triết thuyết của
Heidegger thì lại nhiều thâm ý. Tuy vậy, ảnh hưởng của cuốn sách tại Pháp khá
đáng kể, kéo vào cuộc cãi vã những nhân vật lớn như Pierre Bourdieu, Jacques
Derrida, và Jean-François Lyotard.
Để hiểu tại sao những tranh cãi như vậy là đặc tính thường hằng
trong khung cảnh trí thức Pháp sau chiến tranh, trước tiên người ta cần hiểu
làm thế nào một phiên bản “Pháp hóa” rất riêng của tư tưởng Heidegger lại có một
vị thế vượt trội, đặc biệt là, và có lẽ nghịch lý thay, ở cánh tả.
--
Tháng 11.1945, khi đợi phán quyết của ủy ban “giải trừ Quốc
Xã” của ĐH Freiburg, Heidegger viết thư cho một đồng nghiệp cũ, mô tả hoản cảnh
trớ trêu của ông khi đó. Bị cách chức và đồng hương xa lánh, Heidegger lại có
hi vọng nhờ tin tức từ Paris cho hay danh tiếng của ông tại đó đang khởi phát.
Một số người trong quân đội Pháp, khi ấy đang giám sát cuộc épuration ở Freiburg, đã bảo đảm với ông
rằng ở Pháp tác phẩm của ông “dẫn dắt và gây cảm hứng cho cách nghĩ của người
ta, đặc biệt là thái độ của giới trẻ”. Và triết gia Edgar Morin, khi đó là
trung úy trong quân đội Pháp, gửi tới Heidegger một lá thư từ một biên tập viên
một tạp chí hàng đầu ở Paris mới ông viết về một đề tài ông tùy chọn. Nhưng
Heidegger do dự trong việc “đề xướng” tư tưởng của ông ở Pháp khi vị trí của
ông tại Đức vẫn chưa rõ ràng. Tuy vậy, sớm sau đó, ông không còn lựa chọn nào
khác.
Ủy ban đã đưa ra một báo cáo về các hoạt động của Heidegger
trong những năm đầu 1930, xem xét kĩ hành vi của ông khi làm hiệu trưởng [rector]
giai đoạn 1933-1934 và chi chú rằng ông “ý thức đưa trọng lượng về danh tiếng học
thuật và kĩ năng hùng biện của mình phụng sự cuộc cách mạng Quốc Xã”. Heidegger
gia nhập đảng Quốc Xã tháng 5.1933 không lâu sau khi nhận chức hiệu trưởng và
nhanh chóng thiết lập Führerprinzip
[nguyên tắc lãnh đạo] ở trường, bảo đảm cơ quan này không còn được tự trị mà sẽ
phúc đáp trực tiếp, qua người Führer-hiệu
trưởng, với bộ trưởng giáo dục Quốc Xã. Dđiều này kết hợp với sự khẳng định của
ông, trong diễn văn nhậm chức, rằng khái niệm truyền thống về tự do học thuật
là trống rỗng và chỉ thuần mang tính “phủ định”, và sự tự do thực thụ nằm tại một
“cơ thể” sinh viên Đức lúc bấy giờ “đang tuần hành”.
Nhưng quyền hiệu trưởng của Heidegger không kéo dài, ông từ
chức sau mối bất họa với bộ trưởng ở Berlin. Báo cáo kết luận rằng “nhãn ‘Quốc
Xã’ có thể ngừng đính vào ông từ sau 1934” và theo đó “không có mối nguy ngại rằng
ông sẽ đề xướng trở lại những tư tưởng Quốc Xã”. Họ đề xuất có thể trao cho ông
địa vị danh dự và cho ông giảng dạy một số giờ nhất định.
Tuy vậy, một thành viên của ủy ban tiếp tục cho rằng cần phải
có cách xử lý xác đáng hơn, và thế là chuyện này trì hoãn. Mọi chuyện chỉ kết
thúc khi một trong những người quen lâu nhất của Heidegger, triết gia Karl
Jaspers, được nhờ cho ủy ban này ý kiến. Tháng 12.1945, Jaspers đưa ra lời phán
tàn tệ sau đây về người bạn cũ của mình: “Cách nghĩ của Heidegger, với tôi, về
nền tảng là phi tự do, độc đoán và thiếu cởi mở, sẽ có ảnh hưởng rất tai hại với
sinh viên thời điểm này. Và với tôi, bản thân cách nghĩ quan trọng hơn nội dung
thực tế của những phán xét chính trị, thứ mà trong đó tính hung hăng có thể dễ
dàng bị dẫn dắt sang các hướng khác. Chừng nào trong ông ấy chưa có sự tái sinh
thành thực, được thấy trong cách làm việc của ông, tôi nghĩ sẽ rất sai lầm khi cho
một người giáo viên như vậy tự do dạy giới trẻ ngày hôm nay, những người vô
cùng mong manh về mặt tâm lý.”
Nhờ một phần lệnh cấm giảng dạy được ban ra sau đó, “cách
nghĩ” Jaspers nói đến không có điều kiện bắt rễ sau chiến tranh ở Đức, nơi việc
tiếp nhận tác phẩm Heidegger luôn mang nhiều tính chính trí, với cường độ không
khác gì khía cạnh hẹp triết học, và nơi sự thân thuộc của tác phẩm với suy nghĩ
“cách mạng bảo thủ” của các nhà văn như Carl Schmitt và Ernst Jünger được phần
nào đưa ra xét đoán. Theo sự diễn giải được “lịch sử hóa” này, “cú ngoặt” nổi tiếng
trong tư tưởng của Heidegger, trong đó ông từ bỏ các phạm trù chuẩn-Kant
[quasi-Kantian] của tác phẩm Hữu thể và
thời gian (1927) được ông gán danh một “lịch sử của Hữu thể”, chỉ có thể hiểu
được khi soi xét việc ông từ bỏ chức hiệu trưởng và ảo tưởng tan vỡ trước con
đường của cuộc cách mạng Quốc Xã sau 1934.
Heidegger bắt đầu tin rằng thực tại được trao phẩm chất nhờ
tính quên [forgetfulness] của “Hữu thể” và tính quên này tự phô bày trong thế
thống trị trên toàn cầu của khoa học và công nghệ hiện đại. Nơi chủ nghĩa Quốc
Xã và cụ thể là Hitler năm 1933 hứa hẹn sự “thức tỉnh” của người Đức và sự cứu
chuộc khỏi “tính hư vô” của thời hiện đại, lúc này Heidegger coi nó như là hiện
thân gần nhất của chuẩn phước [dispensation] đó. Song, như Karl Löwith, học
sinh cũ của ông, chỉ ra năm 1946, điều này không có nghĩa Heidegger đã ngừng
tin vào sự cần thiết của cuộc cách mạng quốc gia sau 1934 – không một chút nào.
Và Löwith tin rằng sự “tạ lỗi ngây thơ” dành cho Heidegger xuất bản cùng năm ở
Pháp trên tờ Les Temps Modernes chỉ cho
thấy ông là một “đại diện đặc biệt của cuộc cách mạng Đức”.
Trái lại, ở Pháp, Hữu
thể và thời gian của Heidegger được xét nhận theo lối phi lịch sử, và tác
giả của bài báo trên Temps Modernes,
Jean Beaufret, đóng vai trò quan trọng trong việc gieo rắc nó. Ông là người nhận
“Bức thư về thuyết nhân bản”, bản văn cơ sở của những người theo Heidegger ở
Pháp.
Beaufret đã viết cho Heidegger sau khi Jean-Paul Sartre có
bài giảng mang tên “Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản”, vốn sau đó
xuất bản nhận được khá nhiều tung hô. Trong bài giảng, Sartre tuyên bố về một thuyết hiện sinh bắt nguồn từ Hữu thể và
thời gian, theo đó sự tồn tại của con người đặt trước yếu tính của anh ta;
nói cách khác, con người được tự do định đoạt yếu tính của mình. Đáp lại
Beaufret, Heidegger phủ nhận tất cả mối liên hệ giữa tư tưởng của ông và
Sartre. Ông lập luận, Sartre bàn chủ quan và đại để về chính xác cái cần được
chất vấn, đó là: nghĩa của “con người”. Khi giả định rằng yếu tính của con người
nằm ở hành động hay quyết định, Sartre bỏ qua câu hỏi nền tảng hơn về nghĩa của
Hữu thể. Thuyết hiện sinh của Sartre, hóa ra, chỉ là một dạng thức khác của
tính quên. Lịch sử của phương Tây, với Heidegger, là lịch sử về quyền lực gia
tăng của tính chủ quan của con người, trong đó con người ưu thứ quyền thế nhờ
công nghệ trước giới tự nhiên, thay vì đóng vai trò khiêm tốn hơn là “con chiên
của Hữu thể”.
Do vậy, nhìn chung hơn, Heidegger xuất hiện ở khung cảnh
Pháp thời hậu chiến như một nhà phê bình công nghệ và tính hiện đại. Và trong
cuốn sách của mình, Emmanuel Faye ghi nhận ảnh hưởng của thuyết chống nhân
bản của Heidegger đối với những trào lưu chính của tư tưởng Pháp thời hậu chiến,
từ Althusser và Foucault đến tác phẩm của Jacques Derrida. Hơn nữa, chính sự ảnh
hưởng đó lý giải tại sao “những sự vụ Heidegger” tiếp nối sau đó ở Paris lại
hào hứng như vậy.
Những năm 1970, một thuyết chống nhân bản cánh tả xuất
phát từ lịch sử Hữu thể của Heidegger lấp khoảng trống để lại sau sự suy sụp của
chủ nghĩa Marx, và mặt khác, phần nào đó, sự khiếm khuyết hoàn toàn tại Pháp bất
cứ truyền thống nào về lý thuyết chính trị chuẩn tắc. Ít nhất thì Faye cũng có những thành tựu,
trong một tác phẩm nơi sự pha gian triết học còn vượt trên cả cuốn của Farias ở một vài thang độ,
trong việc cho độc giả Pháp thấy những gì các triết gia Đức như Jürgen Habermas đã
tranh cãi trong nhiều năm: thực tế, sự thù địch phi phân hóa và phi biện chứng
của Heidegger với tính hiện đại được gắn bó trên hết với sự giao kết của ông với
cuộc “cách mạng quốc gia” ở Đức (một sự giao kết kéo dài lâu hơn sự tán đồng
chính thức đầy chóng vánh của ông với đảng Quốc Xã).
Chẳng hạn, Faye chỉ ra rằng, sự phê phán “thuyết chủ sinh”
[biologism] được Heidegger phát triển trong các bài giảng sau khi ông từ chức
hiệu trưởng không phải, như cách Heidegger và một số người “theo đuôi” ông ở
Pháp tuyên bố, là chứng cứ cho sự đối lập gia tăng của ông với “thế giới quan
Quốc gia-Xã hội”. Heidegger chắc chắn khước từ những lý thuyết triệt để về sinh
học được các nhà ý hệ Quốc Xã như Alfred Bäumler và Ernst Krieck đề xướng.
Nhưng sự phê phán này, Faye lập luận, tương hợp với việc Heidegger duy trì một
quan niệm “siêu hình” về chủng loài. Điều Heidegger chống đối là nền tảng của
các lý thuyết sinh học trong “quan niệm theo thuyết Darwin về cuộc sống”, thứ
ông xem là cùng một giuộc với “quan niệm tự do về con người và xã hội loài người”
mà ông vẫn giữ sự thù hằn rõ rệt và không khoan thứ.
Hồi năm 2005, tôi có nói chuyện với Richard Wolin, một nhà sử
học về trí thức người Mỹ, đã kí là thư công khai ủng hộ Faye. Ông ấy nói với
tôi: “Faye thực hiện một việc rất hiệu quả, chỉ ra Heidegger gắn kết hoàn toàn
thế nào với chủ nghĩa Quốc Xã và chứng tỏ rằng sự gắn kết đó cũng có tính tri
thức và triết học.” Tuy vậy, Wolin khẳng định rằng chúng ta không nên kết luận
từ đó rằng triết thuyết của Heidegger, xét về toàn cục, có thể được “chỉ mục
hóa”. Có lẽ một kết luận thích hợp hơn rút ra từ cuốn sách đáng chú ý của Faye
là điều mà đồng nghiệp của ông, triết gia Jean-Michel Salanskis, ủng hộ. Theo
quan điểm của Salanski, thứ Faye dạy chúng ta là việc cánh tả Pháp lúc này nên
công nhận rằng trong Heidegger, không có cái gì có chuyện gần gũi gọi là với sự
“hứa hẹn về tự do và công bằng”.
Jonathan Derbyshire
No comments:
Post a Comment