Lái máy bay đêm là một canh bạc, nhất là vào những
năm 30 của thế kỷ trước khi phi công chỉ có la bàn, bản đồ và thêm một người
truyền điện tín, nhiên liệu chỉ đủ cho một “cua" bay dài nhất là ba giờ.
Thế mà, một nhà văn kiêm phi công thời đó có thú vui bay không cần vô tuyến, với
nhiên liệu hạn chế, và bản thân ông cũng là người đãng trí, cẩu thả. Bất kể bay
trên sa mạc hay đại dương ngút ngàn, chỉ cần đến miền đất xa xôi ông lại cảm thấy
như chốn nhà của mình vậy. Người yêu văn học gọi ông bằng cái tên trìu mến
Saint-Ex (hay “Xanh Tếch”).
![]() |
| Cuộc đời không chỉ là những vì sao, mà còn có gió và cát |
Vào thập niên 1920, Saint-Exupéry từng tham gia
trung đoàn khinh kỵ, rồi sau đó được điều sang không lực Pháp. Giải ngũ, ông
làm phi công chở thư tín cho hãng Aéropostale (tiền thân của Air France) nơi
ông thực hiện những cung đường nguy hiểm, các nhiệm vụ đầy bất trắc, trong đó
có cuộc điều đình giải cứu phi công bị người Moors bắt làm con tin, giúp ông được
trao Bắc đầu bội tinh. Bay đêm (Châu
Diên dịch, Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn) là truyện vừa (novella) xuất bản năm
1931, hai năm sau khi ông được điều đến Argentina và phụ trách đường bay băng
qua dãy Andes. Cùng với Xứ con người (Nguyễn
Thành Long dịch), hai tác phẩm là niềm say mê tận hiến những chuyến bay qua
gió, cát, qua những vì sao thăm thẳm và hơn thế nữa, là giấc mơ chinh phục.
Bay đêm
mở đầu bằng tràn ngập hình ảnh so sánh, gợi lên ký ức về một miền cảm xúc chông
chênh: chiều buông như mặt nước gợn nhẹ bên bến cảng, chàng phi công như mục đồng
của những thành thị nhỏ xinh, bầu trời yên như một bể cá bằng kính, những cơn
giông ẩn mình như con sâu chui vào quả ngọt. Đêm là nơi trí tưởng tượng trú ngụ.
Màn đêm hun hút dễ đẩy mọi thứ lên cực điểm. Bằng mạch kể tuyến tính, tác giả
khéo léo đẩy bi kịch của chàng phi công Fabien lên cao trào với hình ảnh vợ anh
dùng hai nắm tay đấm kiệt lực vào tường khi không nhận được tin tức từ chồng
mình. Hai người mới lấy nhau được sáu tuần.
Trong ba máy bay chở thư quy tụ về Buenos-Aires, chiếc
của Fabien mắc kẹt trong giông bão, lạc ra biển và nhiên liệu vắt kiệt đến giọt
cuối cùng. Bất chấp thời tiết xấu, viên quản lý đường bay Rivière vẫn giữ vững
lịch trình, thúc giục tổ bay chính xác đến từng phút. Con người sống vì hành động
ấy từng thải hồi lão thợ máy kì cựu Roblet làm lao công, để ngăn sự yếu đuối
tiêm nọc vào mình khi nghĩ đến viễn cảnh các “đền đài đã bị những dây leo bé tí
làm cho sụp đổ” (tr. 68). Về sau, khi Saint-Exupéry làm nhà báo trong cuộc nội
chiến Tây Ban Nha, ông sẽ còn nhắc đến sự điên rồ phi lý ập đến con người như một
bệnh dịch.
Mong muốn chỉ huy các biến cố, nhân vật phản anh
hùng Rivière đại diện cho giấc mơ ngạo nghễ của người chinh phục – kẻ chẳng cần
ai hiểu, kẻ duy ý chí ngụ trong giáo đường vàng son của chính hắn. Với Rivière,
cuộc sống là sự sản sinh các hình tượng, đưa con người trở thành bất tử, để cái
chết của họ dựng lên những tảng đá mà hoang mạc không thể vùi lấp.
Nghề bay là một dạng ecstasy, thứ gây ảo giác,
thách thức các giới hạn về thể trạng và tâm lý. Trong buồng lái kín bưng, đường
cùng không lối thoát lại là cánh cửa hanh thông của khát vọng sinh tồn. Khi đã
bước một chân vào cửa tử, Fabien tìm thấy giữa bão giông những ngôi sao trên đầu,
"anh đói ánh sáng đến nỗi anh vẫn bay lên" (tr. 107). Người phi công
trở thành sinh vật có ý chí đơn độc giữa màn đêm và gió xoáy. Cái kết truyện để
lại khoảng trống về số phận Fabien, một điềm báo cho số phận của tác giả khi
nhiều năm sau, chính ông lại rơi vào hoàn cảnh tương tự. Năm 1944, ông mất tích
trên biển Địa Trung Hải khi đang bay thám sát thu thập thông tin về quân Đức.
Nhiều giả thuyết được đưa ra, nhưng chưa có gì sáng tỏ khi cuộc đời Saint-Ex
cũng nhiều huyền bí và ẩn dụ như tác phẩm của mình.

No comments:
Post a Comment