11 Oct 2013

Chờ đợi “vệt văn chương” mới

Hằng năm, cứ vào đầu tháng 10, dân sách vở trong nước lại lấy cớ tụ họp quanh đĩa lạc muối, cốc bia, bàn nhậu để “đàm đạo” về một đề tài văn hóa tân thời: giải Nobel văn chương năm nay thuộc về ai.

Khác với hạng mục vật lý, y học, hóa học, kinh tế vốn chỉ có dân trong nghề mới đủ độ hăng hái quan tâm và đủ tầm để hiểu (1) , giải văn chương bình dân hơn cả, gắn liền với quần chúng “cần lao” và xoay quanh một dạng sản phẩm tri thức dễ gần, dễ nhập tâm, dễ “tám”: văn thơ. 


Người viết bài này chẳng vui gì nếu giải năm nay rơi vào tay Murakami

Ấy thế mà vài năm trở lại đây, trong danh sách đề cử giải này lại có một kẻ ngoại đạo, sản sinh rất nhiều tác phẩm nhưng dù dễ dãi đến mấy cũng không thể xếp vào hạng mục sách vở. Đó là Bob Dylan, ca sĩ, nhạc sĩ Mỹ tài danh từng hát nhạc phản chiến chống chiến tranh Việt Nam và được ai đó so sánh với Trịnh Công Sơn là như trăng và nguyệt . Trong lịch sử từng có trường hợp người nhận giải được biết đến trước hết không phải là nhà văn, nhà thơ hay viết kịch. Bertrand Russell, triết gia Anh, nhận giải Nobel văn chương năm 1950 vì “những tác phẩm đa dạng, ở đó ông kết tinh các lý tưởng nhân văn và sự tự do tư tưởng.” Winston Churchill, cựu thủ tướng Anh, ngoài tài năng chính trị lỗi lạc còn là nhà sử học, nhà văn, nhà diễn thuyết hùng hồn “nhằm bảo vệ các giá trị cao quý của con người.” So với hai trường hợp trên, Bob Dylan khó mà đạt tiêu chuẩn nhập hội, trừ khi ủy ban trao giải Nobel phong ông là “nhà thơ” đại chúng.



Một điều hấp dẫn của giải Nobel văn chương đối với người đọc Việt Nam là nó thường tạo ra cú hích cho hoạt động xuất bản, dịch thuật trong nước, ví dụ trường hợp của J. M. Coetzee, Orhan Pamuk, Le Clézio, Vargas Llosa… Những người say mê văn học trông chờ giải này như là món bánh ga tô gói ghém buộc nơ, cất vào tủ lạnh, chỉ chờ đến ngày mở ra xem trên mặt bánh đề tên ai và liệu có ngon đến mức vỗ đùi đánh đét như nhân vật Hoàng trong truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao.

Hiệu ứng này không tránh khỏi gây ra tác dụng ngược, như năm ngoái khi cái tên Mạc Ngôn – phó chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc – được xướng lên. Dẫu không thể phủ nhận những tác phẩm đặc sắc như Đàn hương hình, Báu vật của đời, Cây tỏi nổi giận... nhiều người đọc Việt Nam vẫn cảm thấy hụt hẫng vì hầu hết tác phẩm của ông từ lâu đã được dịch sang tiếng Việt. Nếu coi đây là tiền lệ không mấy vui vẻ cho ngành xuất bản, người viết bài này không trông đợi giải Nobel năm nay rơi vào tay Haruki Murakami, nhà văn Nhật được xem là ứng cử viên hàng đầu từ nhiều năm nay. Bởi lẽ, Murakami đã quá quen thuộc với độc giả Việt Nam và thế giới. Dẫu có đoạt giải hay không, sách của ông vẫn bán chạy và ông vẫn đứng vào tốp những nhà văn triệu phú. Chưa kể, Haruki Murakami, Umberto Eco, Kazuo Ishiguro hay Salman Rushdie là những nhà văn “đại đồng”, còn giải Nobel văn chương có xu hướng trao cho giọng văn chương có tính “khu biệt”

Nếu dùng phương pháp loại suy, giải năm nay khó có thể rơi vào tay nhà thơ, sau khi Tomas Tranströmer lãnh giải năm 2011. Dân theo dõi trang cá cược Ladbrokes nhắc nhiều đến Adunis (tên thật là Ali Ahmad Said), nhà thơ Syria 83 tuổi, viết bằng tiếng A Rập, nhưng có lẽ ủy ban trao giải cũng không muốn giải thưởng danh giá này nhuốm màu chính trị khi đề tài Syria đang nóng sốt. Bởi vậy, nếu xét về ưu thế thể loại, có thể kể đến hai kịch tác gia Tom Stoppard (người Anh gốc Séc) và Peter Handke (Áo). Còn nếu xét về địa phương cát cứ, hẳn phải nghĩ đến ngay một tác giả Mỹ. Dẫu có quá nhiều cái tên sáng giá được đề cử, vẫn chưa có nhà văn Mỹ nào được xướng tên trong 20 năm qua, kể từ Toni Morrison – một nhà văn nữ. Philip Roth và Don DeLillo là hai cái tên xứng đáng và đã có một số tác phẩm được dịch sang tiếng Việt. Một người là nhân vật nòng cốt của dòng văn chương Mỹ-Do Thái, năm ngoái đã tuyên bố ngừng viết văn, còn người kia có các tác phẩm nhuốm màu sắc điện ảnh và hậu hiện đại, khai thác tầng sâu của ngôn ngữ biểu hiện.

Viện khoa học Hoàng gia Thụy Điển từ lâu đã bị đánh giá mang tư tưởng “dĩ Âu vi trung” (lấy châu Âu làm trung tâm) ở địa hạt văn học. Vì thế “thuyết âm mưu” cho rằng họ sẽ trao giải cho những cá nhân dễ bị nghi ngờ nhất để chống lại chính thành kiến nói trên. Năm 2011, chẳng ai ngờ giải về tay một người Thụy Điển trên sân nhà. Năm nay, có lẽ vì lý do tương tự mà mấy ngày qua, Jon Fosse, nhà viết kịch 54 tuổi từ đất nước Na Uy láng giềng, thăng hạng đáng kể trong bảng cá cược của Ladbrokes, từ 1 ăn 100 lên đến 1 ăn 9. Còn ở bảng cá cược của Unibet, trường hợp lội ngược dòng trong những ngày “kết sổ” là Svetlana Alexievich, nhà báo nữ Belarus từng viết về thảm họa hạt nhân Chernobyl, và tác giả Hà Lan Cees Nooteboom.

Ernest Hemingway từng nhận xét về cảm giác khi đoạt giải Nobel: “Khi bạn rốt cuộc đã gắng gượng bò được vào bờ thì một đám khốn kiếp lại ném cho bạn cái áo phao cứu đắm.” Với người đọc Việt Nam, đứng ở ngoại vi giải thưởng văn chương danh giá, sẽ chẳng có bờ biển, áo phao hay bờ vực chông chênh nào nằm giữa sự huy hoàng và vụt tắt. Nhưng người ta vẫn chờ đợi một cái tên kín tiếng xa xôi nào đó được xướng lên, để thị trường sách sắp tới có những ngày rộn rã, và người yêu văn học lại có giây phút hứng khởi đàm đạo và khám phá “vệt văn chương” mới. Bởi vì văn thơ là những lời có cánh.

(1) Giải Nobel y học “dễ hiểu” nhất có lẽ là năm 2005, hai người Úc đoạt giải nhờ phát hiện bệnh đau dạ dày do vi trùng (tức do “ăn bẩn”) gây ra chứ không phải bệnh lý thần kinh - thể dịch.

--==--


Bài cũ về Alice Munro, người đoạt Nobel văn chương năm nay.

No comments:

Post a Comment