Khi còn trẻ, con người ta luôn có xu hướng bi kịch hóa cuộc đời. Đời vốn dĩ là một vở kịch, một câu chuyện, ở đó các nhân vật nhảy múa, yêu nhau, ghét nhau, và hứng chịu đau khổ. Bi kịch dĩ nhiên không đơn giản như khúc dạo đầu trong Tristan und Isoldeon của Wagner, hay mang tính khải huyền theo kiểu một hành tinh đâm sầm vào trái đất và con người biến mất trong gang tấc. Vở kịch sau rốt, là giấc mơ, là tất thảy huyễn tưởng, hiện tượng, và các diện mạo tương tác nhau theo luật nhân quả. Oedipus tìm lời giải cho câu đố của Sphinx để tiếp tục hành trình đến Thebes, Jocasta treo cổ tự tử, Clytemnestra mưu sát Agamemnon trong bồn tắm. Thế nhưng cũng chả ai có thể chạy lên sân khấu để cứu Agamemnon hay giải thoát Antigone khỏi bị chôn sống.
Tuy nhiên bi kịch lại là một cánh cửa sổ soi rọi vào hiện thực. Một nhà thơ phải thốt lên rằng, ta đã làm chi đời ta, rồi thì đời vắng em rồi say với ai. Mỗi đời sống cá nhân chỉ là một diện mạo, mỗi chúng ta là một giấc mơ – giấc mơ của ý muốn. Chỉ có ở vị trí khán giả, chúng ta mới có thể nhìn đời một cách nhẫn nại, say sưa và hào hứng, kể cả sự đau đớn và hủy hoại, mới nhìn nhận mình là người tạo tác vở kịch, tạo tác đời. Bi kịch cùng lúc là nỗi hoảng sợ và niềm phấn hứng đê mê.
Nietzche chia ra hai loại bi quan: bi quan yếu đuối – yên nghỉ, trốn thoát khỏi cuộc đời, và bi quan mạnh mẽ - tìm lấy niềm vui, tìm lấy phấn hứng, để mà đối diện với nỗi hoảng sợ. Có những cái view, những khung cảnh mà khi còn trẻ chúng ta thường hay lưu giữ chúng trong kí ức để làm niềm an ủi cho bi kịch. Như một nghệ sĩ, ý muốn của họ không ngừng tạo tác khung cảnh mơ mộng trong một thế giới đầy rẫy hiện tượng.
Tôi nhớ đến Café de Flore của tôi. Một năm trước tôi nhìn thấy em qua ô cửa kính. Em để tóc ngắn, đeo kính râm và đi giày cao, trông cá tính nhưng không thiếu phần nữ tính. Tôi đã nghĩ tôi sẽ theo đuổi người con gái ấy. Kể từ ngày đó, tôi luôn chọn ngồi ở vị trí thuận tiện nhất sau cửa kính, tôi quan sát nhịp sống tất tả ở phố phường Sài Gòn, ngắm nhìn những cơn mưa trái mùa rả rích, những lá me rơi, làn khói từ mặt đường bốc lên phảng phất trong những trưa nắng nóng, hay bóng dáng nữ sinh tan trường tụm năm tụm bảy. Tôi nghĩ những ý tưởng để viết, nghĩ đến một góc phòng nhìn ra cửa sổ với chiếc bàn và giấy bút, một quán ốc nhộn nhạo ở quận tư, vỉa hè trước nhà thờ, và những dấu câu bất định.
Một khung cảnh khác, tức thời hơn cả, ấy là mỗi buổi sáng tôi bước ra cửa, trời se lạnh, thỉnh thoảng làm phát mưa phùn, tôi nhìn sang nhà hàng xóm qua hàng rào chắp bằng ván gỗ. Có tán cây trụi lá và cây quýt. Tôi đặt tên cho chúng là cây đào và quất. Xa hơn nữa là tầng lửng nhà hàng xóm, có một ô cửa sổ và đằng sau đó có lẽ là một người ngồi viết. Tôi hay tưởng tượng dân cư sống trong khu này là người Hy Lạp, vì nhà của họ giống kiểu Hy Lạp, tôi chưa thấy bao giờ, có lẽ thế. Nhưng ngôi nhà này đặc biệt, trên mái có một cái ăng-ten râu. Một gia đình Việt Nam chăng. Nó làm tôi nhớ đến ngày Tết ở Hà Nội, ở quê mình. Nhớ con đường hoa lầy nhầy, búa xua và nhộn nhạo. Một con đường hoa.
Chúng ta có thể chiêm nghiệm cuộc đời mình như một họa phẩm, hay vở kịch. Tất nhiên nó có thể bi đát như trường hợp của Oedipus hay Agamemnon, biết đâu được. Vở kịch ấy không được tạo tác để làm ta hạnh phúc hơn, hay gắn cho ta đôi cánh để bay như trong hiện thực huyền ảo của García Márquez. Nó chỉ giúp ta nhận ra rằng chính mình là diện mạo, là hình ảnh, là phóng chiếu của người tạo tác đích thực ra đời, và cuộc sống này là đáng sống. Đó là những gì bi kịch dạy cho chúng ta.
Và nếu như cuộc đời không là tấn kịch, thì làm sao tôi biết được, khung cảnh Café de Flore, những tán cây và ngôi nhà hàng xóm, tất cả trong đó, có em.
No comments:
Post a Comment