6 May 2012

Dự án Ngõ vòm (1)

[Dịch từ bản tiếng Anh The Arcades Project, Howard Eiland và Kevin McLaughlin dịch từ bản tiếng Đức Das Passagen-Werk, tập 5 trong bộ Gesammelte Schriften [Tuyển tập bản thảo] của Walter Benjamin. Các đoạn in đậm là trích dẫn, in thường là lời bình của Benjamin, trong móc nhọn là đề tài.]

A

[Arcades [Những ngõ vòm], Magasins de Nouveautés, Sales Clerks]
Những trụ cột ma thuật của các cung điện ấy

Cho kẻ tay mơ thấy được từ mọi phía,

Trong những đồ vật mà các hàng hiên để lộ,

Rằng công nghiệp là tình địch của nghệ thuật.

-          “Chanson nouvelle”, trích trong Nouveaux Tableaux de Paris, ou Observations sur les moeurs et usages des Parisiens au commencement du XIXe siècle [Những bức tranh mới về Paris, hay là các quan sát về phong và tục của người Paris đầu thế kỷ 19] (Paris, 1828), quyển 1, tr. 27

Bán những thân xác, những tiếng nói, sự giàu có vô biên không cần bàn xét, bán cái mà người ta sẽ chẳng bao giờ bán.[i]

-          Rimbaud

 “Khi nói về các đại lộ nội vi,” theo Illustrated Guide to Paris, một bức tranh toàn cảnh về thành phố bên dòng sông Seine và những vùng lân cận của nó từ thời năm 1852, “chúng ta đã lần đi lần lại nhắc đến những ngõ vòm thông đến chúng. Những ngõ vòm này, một phát minh mới của tính xa hoa công nghiệp, là các hành lang mái ốp kính, chia ô đá hoa, kéo dài qua những khối nhà mà các chủ nhân của chúng hiệp đồng chia sẻ các hành lang ấy. Nằm dọc hai bên hành lang, nhận ánh sáng từ bên trên chiếu xuống, là các cửa hiệu thanh lịch nhất, tuồng như ngõ vòm là một thành phố, một thế giới trong bức tiểu họa {Người dạo phố}, mà ở đó khách hàng sẽ tìm thấy mọi thứ họ cần. Khi trời đổ cơn mưa rào bất chợt, những ngõ vòm trở thành nơi trú ngụ cho những ai không chuẩn bị trước, đem đến cho họ cuộc tản bộ bình yên, dù là hạn hẹp – một điều cũng giúp những người bán hàng hưởng lợi.” {Thời tiết}

Trên đây là đoạn cốt yếu nhằm giới thiệu những ngõ vòm; mà đã nói về những ngõ vòm, thì không chỉ những chuyện lan man về khách dạo phố hay tiết trời, mà ngay cả chuyện xây dựng ngõ vòm, ở trong một mạch kinh tế và kiến trúc, cũng cần được nhắc đến. [A1,1]

Tên của các magasin de nouveautés [cửa hiệu bán đồ mốt]: La Fille d’Honneur, La Vestale, Le Page Inconstant, Le Masque de Fer, Le Petit Chaperon Rouge, Petite Nanette, La Chamière allemande, Au Mamelouk, Le Coin de la Rue[ii] - những tên hầu hết bắt nguồn từ các vở khinh kịch [vaudeville]. {Thần thoại học} Cửa hiệu găng tay: Au Ci-Devant Jeune Homme. Cửa hiệu mứt kẹo: Aux Armes de Werther.

“Tên của người bán kim hoàn xuất hiện bên trên cánh cửa của cửa hiệu bằng các chữ cái lớn được chạm – được chạm từ đá giả ngọc tinh tế.” Eduard Kroloff, Schiderungen aus Paris (Hamburg, 1839), quyển 2, tr. 73. “Ở Galerie Véro-Dodat, có một hiệu tạp hóa; bên trên cánh cửa của nó, người ta đọc được dòng chữ: “Gastronomie Cosmopolite” [Tứ hải sành ăn]. Từng ký tự riêng rẽ của biển hiệu được làm, theo lối comic, từ  những con chim dẽ giun, gà lôi, thỏ rừng, gạc hươu, tôm hùm, cá, cật chim, v.v.” Kroloff, Schilderungen aus Paris, quyển 2, tr. 75. {Grandville[iii]} [A1,2]

Khi việc kinh doanh phát đạt, người chủ sẽ mua hàng trữ cho một tuần, và để có chỗ chứa hàng, họ sẽ thu vén gác xép. Bằng cách ấy, boutique trở thành một magasin.

Đó là thời mà Balzac có thể viết: “Nhà thơ lớn nổi danh ngâm những khúc stanza đầy sắc màu từ Nhà thờ Madeleine cho đến Porte Saint-Denis.” Le Diable à Paris (Paris, 1846), quyển 2, tr. 91 (Balzac, “Những đại lộ ở Paris”). [A1,4]

“Vào ngày cái từ đặc sản [specialty] được phát minh bởi Nữ hoàng Lãnh thương, hoàng hậu của nước Pháp và các vùng lân cận: người ta nói rằng ngày đó, Mercury, vị thần đặc trách về buôn bán và các đặc sản xã hội khác, cầm phù hiệu của mình gõ ba lần trước cửa Sở Chứng khoán và thề trước bộ râu của Proserpine rằng ông hài lòng với cái từ đó.” {Thần thoại học} Tuy vậy, từ này ban đầu được dùng chỉ để chỉ các vật phẩm xa xỉ. La Grande Ville: Nouveau Tableau de Paris [Thành phố lớn: Bức tranh mới về Paris] (Paris, 1844), quyển 2, tr. 57 (Marc Fournier, “Các đặc sản của người Paris”). [A1,5]

Những con đường hẹp xung quanh Opéra và những mối nguy mà người đi bộ gặp phải khi bước ra từ nhà hát ấy, luôn bị vây xung quanh bởi cơ man là xe ngựa, đem đến cho một nhóm các nhà đầu cơ năm 1821 ý tưởng dùng một số khối cấu trúc để phân tách nhà hát mới với đại lộ. / Việc làm này, vốn mang lại giàu có cho những người khơi ra ý tưởng, cũng cùng lúc mang lại lợi ích to lớn cho công chúng. / Bằng một ngõ vòm bằng gỗ, nhỏ, hẹp, ốp mái, người ta thực sự có thể đi trực tiếp, với sự yên tâm tuyệt đối trên hành lang của Opéra [về tiết mục này, nên xem phim Sherlock Holmes: A Game of Shadows (2011) :ppp - ND], tới các phòng trưng bày và từ đó trở ra đại lộ... Bên trên mũ cột của trụ bổ tường kiểu Doric phân chia các cửa hiệu, là hai tầng căn hộ, và bên trên các căn hộ - dọc theo chiều dài của các phòng trưng bày – là một mái ô kính khổng lồ bao trùm.” J. A. Dulaure, Histoire physique, civile et morale de Paris depuis 1821 jusqu’à nos jours [Lịch sử thực tế, dân sự và đạo đức của Paris từ năm 1821 đến thời chúng ta] (Paris, 1835), quyển 2, tr. 28-29. [A1,6]

Cho đến năm 1870, xe ngựa là phương tiện chủ đạo trên đường phố. Người đi bộ đến là khổ trên các vỉa hè chật chội, và thế là họ chủ yếu tản bộ trong những ngõ vòm, nơi che chắn cho họ khỏi thời tiết xấu và giao thông ngoài đường. “Những đường phố lớn và vỉa hè rộng rãi của chúng ta thích hợp cho cuộc bát phố ngọt ngào, cũng như vào thời ông già của chúng ta thì chỉ có những ngõ vòm mà thôi.” {Người bát phố} Edmond Beaurepaire, Paris d’hier et d’aujourd’hui: La Chronique des rues [Paris hôm wa và hôm nay: Biên niên sử đường phố] (Paris, 1900), tr. 67. [A1a,1]

Tên các ngõ vòm: Ngõ Panoramas, Ngõ Véro-Dodat, Ngõ Désir (hồi xưa dẫn đến một ngôi nhà tai tiếng), Ngõ Colbert, Ngõ Vivienne, Ngõ Pont-Neuf, Ngõ Caire, Ngõ Réunion, Ngõ Opéra, Ngõ Trinité, Ngõ Cheval-Blanc, Ngõ Pressière [Bessières chăng?], Ngõ Bois de Boulogne, Ngõ Grosse-Tête. (Ngõ Panoramas ban đầu có tên là Ngõ Mirès.) [A1a,2]

Ngõ Véro-Dodat (được xây giữa Rue de Bouloy và Rue Grenelle-Saint-Honoré) “được đặt theo tên của hai người bán thịt heo giàu có, quý ông Véro và Dodat, năm 1823 hai người cùng thực hiện việc xây dựng ngõ vòm và những tòa nhà ngay sát – một sự phát triển kỳ tích. Điều này gợi hứng cho một người ở thời đó mô tả ngõ vòm này như một “công trình nghệ thuật đáng yêu được dựng lên bởi hai người hàng xóm””. J. A. Dulaure, Histoire physique, civile et morale de Paris depuis 1821 jusqu’à nos jours (Paris, 1835), quyển 2, tr. 34. [A1a, 3]

Ngõ Véro-Dodat có nền đá hoa. Nữ diễn viên Rachel đã sống ở đây một thời. [A1a,4]

Số nhà 26, Galerie Colbert: “Ở đó, trong lốt một phụ nữ làm găng tay, ánh lên một vẻ đẹp có thể tiếp cận, nhưng trong sự trẻ trung, vẻ đẹp ấy chỉ mang tầm quan trọng tự thân; cô ấy đòi những người yêu thích mình chu cấp cho cô quần áo đẹp để cô hy vọng kiếm được gia tài nhờ nó... Người phụ nữ trẻ trung và xinh đẹp dưới lớp kính có tên “Tuyệt đối”; nhưng triết học hẳn là hoài phí thời gian đeo đuổi cô. Hầu gái của cô mới là người bán những chiếc găng tay; cô ấy muốn như thế.” {Búp bê} {Gái bán hoa} [Charles] Lefeuve, Les Anciennes Maisons de Paris [Những ngôi nhà cổ ở Paris], quyển 4 (Paris, 1875), tr. 70. [A1a,5]

Cour du Commerce: “Tại đây những thử nghiệm đầu tiên (dùng lông cừu) đã được tiến hành với máy xén giấy; người phát minh ra nó thời đó sống ở Cour de Commerce và Rue de l’Anciene-Comédie.” Lefeuve, Les Anciennes Maisons de Paris, quyển 4, tr. 148. [A1a,6]

“Ngõ Caire, nơi nghề kinh doanh chính là in thạch bản, hẳn đã trang hoàng đèn đóm khi Napoleon đệ Tam bãi bỏ thuế tem cho các thông cáo thương mại; sự giải phóng này làm cho ngõ vòm giàu có hơn, và cho thấy nhận thức rõ hơn về các khoản chi tiêu cho sự đẹp-đẽ-hóa. Còn thì trước đó, mỗi lần trời mưa là người ta phải dùng ô chống dột trong các phòng trưng bày, bởi có vài chỗ thiếu kính chắn.” Lefeuve, Les Anciennes Maisons de Paris, quyển 2, tr. 233. {Những ngôi nhà mơ ước} {Thời tiết} (trang trí kiểu Ai Cập). [A1a,7]

(còn tiếp)



[i] Trích bài Solde trong tập Les Illuminations. Nguyên tác: A vendre les corps, les voix, immense opulence inquestionable, ce qu'on ne vendra jamais. Câu trước đó là “Bán cái đà tiến rồ dại và không hồi kết, mang theo những huy hoàng vô hình [spendeurs invisibles], những khoái lạc không cảm thấy [délices insensibles]...” , thể hiện nỗi khao khát với những “huy hoàng vô hình” và “khoái lạc không cảm thấy” mà người mua hằng mong ước, tương tự như các “cung điện” với những “trụ cột” ở đề từ thứ nhất, một bài ca dao thời Napoleon. Đây là cái nhìn ghen tức của một người khi thấy mọi thứ kể cả những thân xác và tiếng nói bị rao bán trong nền văn hóa tiêu dùng mới xuất hiện ở thế kỷ 19. Marjorie Perloff (trong Unoriginal Genius) cho rằng hai đề từ là sự trang bị để sau đó giúp chúng ta thấy sự mâu thuẫn giữa tính xa hoa và ảo cảnh [phantasmagoria] – Benjamin sẽ còn nhắc nhiều đến từ này - của các magasin de nouveatés. (Các chú thích ca ND)

[ii] Ở danh sách này có sự mỉa mai: Cung nữ (fille còn ám chỉ một gái đường phố hay gái bán hoa), Trinh nữ Vestal (Trinh nữ gác ngọn lửa trong điện Vesta. Ở đây ý nói người con gái nền nếp, mẫu mực), Trang sách đổi thay (vở balê-kịch câm ba hồi của Jean Dauberval), Mặt nạ sắt (Một người tù bí ẩn, luôn che mặt bằng vải đen, dưới triều vua Louis XIV. Người này bị giam 40 năm ở các nhà tù khác nhau cho đến lúc chết ở Bastille năm 1703. Một vài giả thiết cho rằng người này là anh em của Louis XIV), Cô bé quàng khăn đỏ, Nàng Nanette (kịch opera của Louis Abel Beffroy), Nhà tranh Đức (kịch mélo ba hồi của MM. E. Rouseau), Đội quân nô lệ Ottoman, Góc phố. Tiếp tục là tên của hiệu bán găng: Chàng trai trẻ trước đây; và hiệu bán mứt: Những khẩu súng lục của [chàng trai trẻ thất tình tự tử] Werther.

[iii] J.J. Grandville, bút danh của Jean Ignace Isidore Gérard (1803-1847): nhà vẽ biếm họa người Pháp. Theo nhận xét của Benjamin, các huyễn tưởng trên tranh thạch bản của Grandville đem lại cho vũ trụ “một đặc tính hàng hóa [commodity character]”.

No comments:

Post a Comment