Trong blog cũ ở yahoo 360, bác Nhị Linh có một lần đề cập đến cuốn sách sắp in (đến bây giờ thì in rồi) của Robert Littell (bố của Jonathan Littell), Stalin Epigram, tức nói đến bài epigram mà Mandelstam viết về Stalin. Đúng ra mà nói, Mandelstam chưa bao giờ có ý định đặt bút viết bài này vì biết chắc nó sẽ không bao giờ được in, mà ông chỉ làm trong đầu rồi đọc nó cho những người bạn chí thân, hy vọng bài thơ sẽ lưu lại trong tâm trí họ và lưu truyền đến nhiều người khác. Mà quả thật, nhiều năm sau này khi Vitaly Shentalinsky tìm thấy một bản viết tay của bài thơ trong kho lưu trữ của KGB, nó không khác gì với tất cả bản samizdat đã được lưu truyền.
Trong New York Review of Books số này, José Manuel Prieto cũng viết về bài thơ này, Epigram against Stalin. Ông không đề cập đến cuốn sách của Robert Littell mà chỉ kể về việc dịch bài thơ sang tiếng Tây Ban Nha, đồng thời phân tích về ngữ nghĩa của mười sáu dòng thơ mà một nhà phê bình cho là “bài thơ mang tính chính trị quan trọng nhất thế kỉ hai mươi”. Bài viết của Prieto có khá nhiều câu chuyện có thật và giai thoại, về Mandelstam, những người bạn của ông, và cả về Stalin cùng những người thân cận. Theo Prieto, không giống như thi phẩm của Joseph Brodsky mà ông đã dịch, thơ của Mandelstam “cô đặc một cách lôi cuốn”, “không lan man rời rạc”, và “dường như không thể diễn giải được những cung bậc âm vang của nó, hay độ giàu của hình ảnh sang một ngôn ngữ khác [tiếng Tây ban Nha]”. Giàu hình ảnh như thế nào thì tác giả đã phân tích rất rõ trong bài của mình.
Theo Prieto, không chỉ một lần Mandelstam đã đọc bài epigram đó cho bạn mình. Lần đầu (mùa đông 1933?), Mandelstam đọc bài thơ cho riêng Pasternak, vốn luôn là người thận trọng hơn và tinh nhanh hơn trong cả hai. Pasternak phản ứng ngay lập tức: “Những gì mà cậu vừa ngâm cho tôi nghe không có chút liên quan gì đến văn chương hay thơ ca cả. Đó không phải một thi phẩm, mà là một trò tự sát mà tôi không hề tán thành và cũng không muốn can dự vào một chút nào cả. Cậu chưa hề ngâm cho tôi nghe cái gì nhé, và tôi chưa từng nghe thấy gì, và tôi van cậu đừng có ngâm nó cho bất kì ai khác nữa.” Tuy nhiên nhà thơ vẫn bỏ ngoài tai. Emma Gerstein, một người rất thân cận với cả Pasternak và Mandelstam, trong quyển Hồi ức của bà, có nhắc về một lần nghe Mandelstam ngâm bài này, và lần ấy còn có cả Lev, con trai Gumilyov (chồng đầu tiên của Akhmatova).
Thực ra, khi phạm phải một điều “phạm húy” tày trời như vậy, Mandelstam không bị đẩy vào một kết cục tối tệ nhất ngay, mà còn trải qua bốn năm thăng trầm, từ tháng năm 1934 khi ông bị bắt lần đầu tiên sau khi bài thơ lọt ra ngoài, cho đến lần bị bắt cuối cùng ở nhà điều dưỡng ở Samatikha vào tháng năm 1938 và sau đó mất vì đột quỵ ở trại trung chuyển gần Vladivostok vào tháng mười hai năm đó, bốn năm đã được miêu tả không thể sống động hơn trong quyển hồi kí đầu tiên, Hope Against Hope, của vợ ông, Nadezhda. Sự nới giãn đó là nhờ việc can thiệp ngay từ đầu của Bukharin bạn ông, lúc đó vẫn còn chút quyền lực ở điện Kremlin, tuy sau này bị thanh trừng, và cả Pasternak. Đó còn là nhờ nỗ lực cứu vớt trễ muộn của chính Mandelstam nhằm cứu lấy vợ và chính bản thân, bằng bài thơ Ca ngợi Stalin, trong đó có câu “Tôi sẽ không gọi ngài bằng Stalin, mà bằng [cái tên trìu mến] Yagashvili.” Đó cũng tương tự như cách Bulgakov, sau cùng, đã viết vở kịch, mang tên Batum, về người anh hùng trẻ tuổi Yugashvili thời tiền cách mạng ở Baku.
Tuy vậy, nỗ lực trong vô vọng của Mandelstam không cứu ông thoát khỏi cảnh bị đày đi lao động khổ sai, và mất trong cái rét và cái khổ khắc nghiệt ở gulag miền viễn đông. Ngay cả Nadezhda sau đó cũng không tránh khỏi việc bị truy lùng bởi NKVD và phải sống một cuộc đời nay đây mai đó cho đến khi Stalin mất. Trong đoạn kết quyển hồi kí thứ hai, Hope Abandoned, bà kể rằng ngay cả đến những năm sáu mươi của cuộc đời, bà vẫn hay nằm mơ, rằng nghe thấy tiếng xe tải ở ngoài sân và tiếng Mandelstam vang lên, “Dậy ngay, lần này chúng đến để bắt em đấy... Anh thì không còn ở đây nữa”, và bà trả lời ông, cũng trong mơ, “Anh không còn ở đây, thì em không còn thiết gì nữa.” Và theo bà, “vào thời gian tôi có giấc mơ ấy, thơ của M. [Mandelstam] đã được in [ở Mỹ]. Giờ thì, không gì có thể hủy diệt chúng được nữa, và bởi vậy, tôi cảm thấy hoàn toàn tự do, tự do tuyệt đối, và tôi đã có thể thở phào nhẹ nhõm. Có bao nhiêu người có thể thấu hiểu được niềm vui sướng khi được thở nhẹ nhõm, dù chỉ một lần trước khi chết?”
No comments:
Post a Comment