30 Jun 2009

Bài Học Của F.D.R Cho Obama

Đọc lại Di sản của Abraham Lincoln

Thật không may cho nhiều học giả và diễn giả đầy cảm hứng là ý nghĩa của từ crisis trong tiếng Trung Quốc không phải được ghép lại bởi hai thành tố danger (nguy hiểm) và opportunity (cơ hội) [crisis mặc dù dịch là khủng hoảng nhưng tiếng Tàu là 危机, tức nguy cơ – ND]. Tuy vậy, sự hiểu lầm thường thấy đó vẫn ẩn chứa một sự thực quan trọng được ẩn dụ: dù mang theo những hiểm họa thế nào chăng nữa, cuộc khủng hoảng vẫn có thể là một cơ hội to lớn. Và Franklin D. Roosevelt là một trong số những người đã hiểu được điều đó.

Những năm 1920 khi viết cho những đồng chí của mình trong Đảng Dân chủ, Roosevelt lưu ý rằng đảng của họ thể hy vọng giành được quyền lực cho đến khi Đảng Cộng hòa đưa đất nước “vào một giai đoạn nặng nề của suy thoái và thất nghiệp”. Không lâu sau cuộc Đại khủng hoảng đã mang đến một giai đoạn bi thảm lâu dài và sâu nặng hơn nhiều so với tiên đoán của F.D.R.. Nhưng cuộc khủng hoảng vào những năm 1930 cũng đưa đến một bài học về mối quan hệ giữa mối nguy kinh tế [economic danger] và cơ hội chính trị [political opportunity] – một bài học mà hiện nay Barrack Obama đang cố gắng theo đuổi. Obama cũng lên nắm quyền vào giữa cuộc khủng hoảng kinh tế, và trong những giải pháp mà ông đưa ra, có vẻ như ông ta thường nhìn lại những trường hợp từ thời F.D.R, vị tổng thống ý tưởng về một chính phủ năng động [activist government] được nhiều người nghĩ đến trong tình hình hiện nay. Những chính sách của Roosevelt không chỉ nhằm giải quyết thách thức trước mắt của Đại khủng hoảng mà còn nhằm tạo thuận lợi cho những thế hệ người dân Mỹ sau này. Đối mặt với một nhiệm vụ tương tự, Obama buộc phải cho người Mỹ thấy rằng trong cuộc khủng hoảng hiện tại cũng đang tiềm ẩn những cơ hội.

Một nước Mỹ cẩn mật hơn

Ai cũng biết rằng kế hoạch New Deal của F.D.R. không thể khiến Đại khủng hoảng chấm dứt. Tuy vậy có một chút khác biệt giữa Roosevelt và Herbert Hoover. Khác với Hoover, F.D.R. đã nắm lấy thời cơ để tạo nên di sản của một cuộc cải cách bền lâu.

Vậy Roosevelt đã đạt được những điều gì đáng kể, và ông ta đã làm thế nào?

Một trăm ngày của năm 1933 là giai đoạn thử thách thần kì với chiến lược đẩy lùi khủng hoảng của F.D.R. được đệ ra. Chuỗi dự luật của giai đoạn đáng nhớ này đã tạo nên đòn kích thích tâm lý cho một đất nước đang lâm vào khó khăn, nhưng phần nhiều những sáng kiến đó đã không cứu được thập kỉ Khủng hoảng. Những thành tựu đáng kể nhất của F.D.R là ở giai đoạn sau đó. Có thể tóm chúng bằng một từ: bảo an (security).

Tất cả cách tân quan trọng của New Deal đều có mục đích chung: không chỉ đơn giản là chấm dứt cuộc khủng hoảng trước mắt mà còn tạo cho nước Mỹ một tương lai ít rủi ro hơn, tạo thuận lợi cho những thế hệ sinh sau thời kì mà F.D.R gọi là giai đoạn đầy những “hiểm nguy và thăng trầm” của cuộc đời. Bằng việc lập ra Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC), kế hoạch New Deal mang lại nhiều niềm tin hơn cho những người gửi tiền vào ngân hàng. Cơ quan Quản trị Địa ốc Liên bang (FHA) bảo vệ những người vay tiền thế chấp nhiều hơn và vì vậy tạo thêm nhiều lựa chọn cho những người mua nhà. Hội đồng Quan hệ Lao động (NLRB) làm ổn định thêm mối quan hệ giữa tiền vốn và nhân công. Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng (Fair Labor Standards Act) bảo đảm mức tiền lương dễ dự đoán hơn cho lớp lao động dễ bị ảnh hưởng nhất. Và Chính sách An sinh xã hội (Social Security) ít nhất cũng mang lại một mạng lưới an sinh (safety net) cho cả người già và người thất nghiệp.

Những cải cách đó tạo thành di sản giá trị nhất của thời Khủng hoảng cho chúng ta. Chỉ một ít trong chúng tạo ra các kích thích kinh tế đáng kể trong ngắn hạn. Nhưng nhìn xa hơn, những biện pháp ấy đặt nền tảng cho sự phát triển kinh tế chưa từng thấy và sự thịnh vượng được phân bổ rộng rãi của những năm sau Thế chiến hai – thời kì mà tiểu thuyết gia Philip Roth từng miêu tả thích đáng là “thời khắc lớn lao nhất của sự say men tập thể [collective inebriation] trong lịch sử nước Mỹ.”

Sự bùng nổ thời hậu chiến mang dấu ấn Roosevelt

Những cải cách của Roosevelt đã thay đổi mạnh mẽ đặc tính của xã hội Mỹ. Chúng vạch ra lối đi của những người thuộc cái gọi là Thế hệ Vĩ đại nhất [Greatest Generation], cũng như số phận của hàng triệu người sinh ra sau cuộc Khủng hoảng. Không phải ngẫu nhiên mà nguyện vọng của người Mỹ gốc Phi về một tư cách công dân trọn vẹn, bị từ chối trong cả thế kỉ qua, cuối cùng cũng được thừa nhận trong bối cảnh nền kinh tế mang thể trạng khỏe mạnh và sự tự tin quốc gia đang lên cao ngật ngưỡng. Dù tính toán theo cách nào, những cải cách của New Deal vẫn là một thành công với sự chuyển dịch xã hội đáng kể lên một tầm cao hơn của mấy thế hệ hậu chiến, của cả hai giới và của mọi màu da, sắc tộc.

Tuy vậy, không kể FDIC, không một cải cách nào được đề ra trong giai đoạn Một trăm ngày, hoặc thậm chí là trong năm 1933. Ở đó ẩn chứa một bài học quan trọng. Nếu như Một trăm ngày nhanh chóng mang lại sự phục hồi kinh tế thì sự trở lại kinh doanh như thường lệ cũng có nghĩa là trở lại với chính trị như thường lệ. Nếu điều đó xảy ra thì chưa chắc chúng ta đã đạt được những thành tựu của cải cách. Tóm lại, Roosevelt đã hiểu sự khác biệt giữa cái gì là cấp thiết [trước mắt] và cái gì là quan trọng. Ông ta không thể bỏ qua sự cần thiết phải lèo lái nền kinh tế vượt qua Khủng hoảng, nhưng cũng không muốn nhiệm vụ đó làm chệch đi mục tiêu quan trọng hơn là làm cho cuộc sống của người Mỹ ít rủi ro hơn và, hơn thế nữa, hợp quần [inclusive] hơn. Ông không chỉ muốn chặn đứng khủng hoảng mà còn ngăn chặn những thảm họa trong tương lại, và nhờ vậy xây dựng một quốc gia mà, như ông từng nói, “ở đó không một ai bị bỏ lại”.

F.D.R. nhận ra cao sự trớ trêu rằng cuộc Khủng hoảng đã giúp ông nhận ra những mục tiêu to lớn hơn. Thật ra không thể nói rằng ông đã cố tình kéo dài khủng hoảng để duy trì những khả năng cải cách. Những ông đã thẳng thắn thừa nhận mối liên hệ giữa hiểm họa [peril] và diễn tiến [progress] trong diễn văn nhậm chức tổng thống lần thứ hai của ông vào ngày 20 tháng Một, 1937. Vào hôm  đó ông đã bắt đầu kế hoạch của mình bằng việc tuyên bố sẽ đưa “đất nước ra khỏi khủng hoảng” và liệt kê ra một số dấu hiệu chứng tỏ sự thịnh vượng sẽ quay trở lại.

Nhưng rồi ông lại chỉ ra dứt khoát trong bài diễn văn nhậm chức lần hai một điều khác thường. “Những triệu chứng đó của thịnh vượng,” ông cảnh báo, “có thể trở thành điềm báo trước của tai họa!” Và lúc đó ông lại phát biểu một câu đã được trích dẫn nhiều nhất và cũng bị gây hiểu lầm nhiều nhất của mình: “Tôi thấy một phần ba đất nước thiếu nhà ở, thiếu mặc, thiếu ăn.”

Khi ông nói đến “một phần ba đất nước”, toàn bộ bài diễn văn trở nên rõ ràng rằng F.D.R. không phải đang nói về toàn bộ những nạn nhân của Đại Khủng hoảng mà ông cho rằng đã kết thúc. Đúng hơn là ông đang nói về những thiếu hụt lớn dần về xã hội và con người trong hơn một thế kỉ của thứ chủ nghĩa tư bản Mỹ hải tặc [bucceneering], đề cao laissez-faire, những thiếu hụt mà ông cho rằng đến năm 1937 vẫn chưa hoàn toàn bù đắp được. Điều đó cũng được ông nhắc lại vào tháng Sáu năm 1936 khi nói rằng “thế hệ người Mỹ bây giờ đang ở một cuộc quy tụ với số phận”.

Sự quy tụ đó không thường thấy trong lịch sử nước Mỹ, và không phải là không có lý do. Như nhà sử học Henry Adams viết, với những người sáng lập ra nền Cộng hòa, nỗi sợ hãi lớn nhất “chính là quyền lực; đó không đơn thuần là quyền lực trong tay của một tổng thống hay một quân vương, của một hay vài hội nhóm, của nhiều hay vài công dân, mà là quyền lực một cách trừu tượng, dù là nó tồn tại ở đâu và dưới hình thức nào.” Đó là lý do những người soạn thảo ra hiến pháp đã xây dựng nên một trật tự chính trị dựa trên “checks and balances”. Sự sắp xếp đó có những điểm tốt dễ thấy, nhưng nó cũng tạo ra chứng bại liệt đục khoét vào hệ thống chính trị của nước Mỹ. Nó ngăn cản việc điều chỉnh mau lẹ nhằm thay đổi những hiện thực kinh tế và xã hội. Nó duy trì sự đình trệ thâm niên mà ở đó những tổn thương và chấn động trở thành tiền điều kiện cần thiết cho hành vi chính trị hiệu quả.  Đến một mức độ mà ta không thấy ở những nền văn hóa chính trị khác, nó tạo ra một sự liên hệ sai lầm giữa nguy hiểm và cơ hội.

Tổng thống Obama hiểu điều đó. Khi được hỏi bởi phóng viên đài PBS Jim Lehrer trong tháng Hai rằng liệu ông có cảm thấy gánh nặng bởi những cuộc khủng hoảng hiện nay, Obama lưu ý rằng thởi khắc này “đầy những hiểm họa nhưng cũng đầy những triển vọng” và những thời điểm khó khăn như thế là “lúc mà hệ thống chính trị bắt đầu dịch chuyển một cách hiệu quả”.

Roosevelt cũng từng đề cập đến điều đó. F.D.R đã thành công với một lịch trình cải cách dài hơi đặt trọng tâm là sự bảo an (security). Obama muốn tiến tới những cải cách khác đã bị ngưng trệ từ lâu. Từ cuộc khủng hoảng ông đã đưa ra những quy lệ mới cho ngành công nghiệp ngân hàng và tài chính. Nhưng vẫn còn nhiều mục tiêu khác. Chăm sóc sức khỏe phổ quát từng được chủ trương lần đầu tiên bởi Đảng Tiến bộ [Progressive Party] của Theodore Roosevelt vào năm 1912. Từ thời Richard Nixon, tổng thống nào lên nắm quyền cũng đưa ra một chính sách về năng lượng đầy thuyết phục nhưng chưa lần nào có ích. Chính sách nhập cư cũng cần sự cân nhắc lại toàn diện, cùng với chính sách giáo dục, những vấn đề về môi trường, chính sách quốc phòng và học thuyết quân sự.

Cũng như F.D.R, Obama buộc phải thực hiện những biện pháp để điều chỉnh nền kinh tế. Nếu không ông ta sẽ đi vào sách lịch sử như là một Hoover thứ hai. Nhưng để so sánh với Roosevelt, Obama sẽ bị đánh giá không chỉ dựa vào việc liệu ông có giải cứu được nền kinh tế khỏi khủng hoảng hiện nay hay không mà còn liệu ông có nắm lấy cơ hợi để cho chúng ta tăng độ đàn hồi khi đối diện với những cuộc khủng hoảng không thể tránh khỏi trong tương lai.

David M. Kennedy

Kennedy đang là giáo sư lịch sử ở Stanford University. Ông là tác giả của Freedom from Fear: The American People in Depression and War, 1929-1945, đoạt giải Pulitzer lịch sử năm 2000.

Dịch từ Time

No comments:

Post a Comment