Phần 1
Phần 2
Cuộc khủng hoảng tài chính tác động đến thế giới phương Tây vào mùa hè năm 2007 là một nhắc nhở kịp thời về một trong những thực tế luôn tái diễn trong lịch sử tài chính. Sớm hay muộn mọi bong bóng đều vỡ. Sớm hay muộn những người bán muốn hạ giá sẽ đông hơn những người mua muốn nâng giá. Sớm hay muộn lòng tham sẽ trở thành nỗi sợ hãi. Khi tôi hoàn tất nghiên cứu cho cuốn sách này vào những tháng đầu năm 2008, khả năng nền kinh tế Mỹ lâm vào suy thoái là rất rõ. Có phải những công ty Mỹ đã khó khăn hơn trong việc thiết kế sản phẩm mới? Có phải bước tiến bộ công nghệ đã bất ngờ chùng lại? Không. Nguyên nhân xác đáng của bất ổn kinh tế trong năm 2008 là về tài chính: rõ ràng, việc các thị trường tín dụng đổ vợ là do những vi ước nợ gia tăng, nói hoa mỹ là nợ thế chấp dưới chuẩn. Hệ thống tài chính toàn cầu trở nên rối mù, khi những hộ tương đối nghèo ở tiểu bang Alabama cho đến Wisconsin đều có thể mua hoặc thế chấp nhà của họ với những khoản vay phức tạp (mà họ không đủ khả năng hiểu) và được gom lại với khoản vay tương tự của những người khác, rồi được đóng gói lại trong những chứng khoán có tên gọi giấy nợ có thế chấp (collateralized debt obligations – CDOs). Chúng được những ngân hàng ở New York và London (giữa những ngân hàng khác) bán cho những ngân hàng khu vực ở Đức và những chính quyền hạt ở Nauy, sau đó trở thành những nơi cho vay thế chấp hiệu quả. Những CDO ngày càng phân mảnh và phân khúc đến độ đống lãi gộp từ những người vay đầu tiên đã góp phần không nhỏ vào lợi tức, cũng như lãi suất công trái mười năm của bộ Tài chính Mỹ, và do đó xứng đáng được ưu ái xếp hạng AAA. Điều đó đưa giả kim thuật tài chính lên một tầng tinh vi hơn, như thể biến chì trắng thành vàng son.
Tuy nhiên, khi những khoản thế chấp ban đầu được áp định mức lãi suất cao hơn sau một hoặc hai năm “chông gai” đáo hạn, bên vay bắt đầu vi ước khoản nợ phải trả. Điều đó đã báo hiệu bong bóng bất động sản ở Mỹ đang tan vỡ, gây ra sự sụt giá nhà đất rõ rệt nhất kể từ những năm 1930. Theo sau nó giống như phản ứng dây chuyền tuy chậm rãi nhưng có sức tàn phá vô cùng. Tất cả những loại chứng khoán có tài sản bảo đảm, bao gồm nhiều phiếu khoán không hẳn được bảo đảm bởi thế chấp dưới chuẩn, đều sụt giảm giá trị. Những tổ chức như “chân rết” hay “công cụ đầu tư kết cấu”, vốn được thành lập bởi những ngân hàng nhằm đưa những chứng khoán có rủi ro cao ra ngoài bảng cân đối kế toán, rơi vào khó khăn chồng chất. Khi những ngân hàng lấy lại những chứng khoán ấy, tỉ số vốn trên tài sản của họ trượt xuống mức kiểm soát tối thiểu. Những ngân hàng trung ương Mỹ và châu Âu đã tìm cách làm giảm áp lực lên các ngân hàng bằng việc cắt giảm lãi suất và đưa ra các quỹ thông qua những “chương trình đấu giá cho vay kì hạn”. Tuy nhiên, vào thời điểm viết sách (tháng Năm năm 2008), lãi suất cho các ngân hàng vay tiền, dù bằng cách phát hành thương phiếu, bán trái phiếu hay vay mượn từ nguồn khác, vẫn duy trì trên định mức của những quỹ Liên bang, mức lãi suất sàn của nền kinh tế Mỹ. Những khoản cho vay nhằm hỗ trợ những hợp đồng mua lại tập đoàn bởi các công ty tư nhân cũng được bán với giá giảm trông thấy. Thua lỗ nặng nề, nhiều ngân hàng tên tuổi của Mỹ và châu Âu đã quay sang cầu cứu không chỉ những ngân hàng trung tâm phương Tây nhằm được hỗ trợ ngắn hạn để tái thiết ngồn vốn dự trữ mà cả những quỹ lợi ích quốc gia (sovereign wealth funds – ND) ở châu Á và Trung Đông nhằm được hỗ trợ để tái thiết cơ sở vốn.
Tất cả điều đó có thể là bất ngờ với một số độc giả. Tuy nhiên tỉ số vốn trên tài sản của một ngân hàng, mặc dù là thuật ngữ chuyên môn, lại có ý nghĩa hơn bên ngoại sách vở. Suy cho cùng, sự “co rút mạnh mẽ” trong hệ thống ngân hàng Mỹ được quy là nguyên nhân không thể chối cãi cho sự bùng nổ và lây lan của cuộc Đại khủng hoảng từ năm 1929 đến năm 1933, thảm họa kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại. Hiện nay, nếu như các ngân hàng Mỹ đã thua lỗ đáng kể với hơn 255 tỉ đô la mà họ cho là hậu quả của khủng hoảng nợ thế chấp dưới chuẩn và thu hẹp tín dụng, vẫn còn mối nguy khác lớn hơn nhiều, có lẽ gấp mười lần, là việc co rút tín dụng có thể làm thu giảm bảng cân đối tài sản của các ngân hàng do có sự sụt giảm về vốn. Nếu như hệ thống ngân hàng trong bóng tối đang nắm giữ những khoản nợ chứng khoán hóa và những tổ chức ngoại bảng cân đối kế toán bị cuộc khủng hoảng này xóa sổ hoàn toàn, co rút còn diễn ra trầm trọng hơn.
Điều này ngầm liên quan đến không chỉ nước Mỹ mà cả thế giới nói chung bởi mức sản xuất của nước Mỹ hiện nay chiếm hơn một phần tư tổng sản lượng toàn thế giới, trong khi nhiều nền kinh tế châu Âu và châu Á vẫn còn phụ thuộc nặng nề vào Mỹ như một thị trường để xuất khẩu. Châu Âu được xem là đang trải qua cuộc suy giảm tương tự Mỹ, nhất là những nước (như Anh hay Tây Ban Nha) cũng trải qua bong bóng nhà đất. Khả năng châu Á có thể lèo lái qua cuộc suy thoái của Mỹ, như cách mà Mỹ đã lèo lái qua cuộc khủng hoảng của châu Á năm 1997-1998, vẫn không chắc chắn. Điều chắc chắn là những nỗ lực của Cục Dữ trự liên bang nhằm làm giảm thu hẹp tín dụng bằng cách cắt giảm lãi suất và bơm thanh khoản cho hệ thống ngân hàng ở Mỹ đã đặt áp lực nặng nề xuống tỉ giá đồng đô la. Việc đồng đô la trượt giá cùng lúc với nền công nghiệp châu Á tăng trưởng đều đặn đã tạo nên cơn sốt giá nhà đất được so sánh với không chỉ của thập niên 1970 mà cả thập niên 1940. Có thể nói rằng giữa năm 2008 chúng ta đã chứng kiến những mầm mống lạm phát của một đại dịch toàn cầu
Bất kì ai đã đọc những dòng trên mà không mang cảm giác bất an quả thực chưa hiểu rõ về lịch sử tài chính. Do vậy, một lý do tôi viết cuốn sách này là muốn giảng giải cho mọi người hiểu rõ. Trước hết, có một điều rõ ràng là một tỉ lệ không nhỏ dân chúng tại những nước nói tiếng Anh không biết gì về tài chính. Một khảo sát năm 2007 cho thấy bốn trong số mười người Mỹ là chủ thẻ tín dụng không trả đủ số tiền đến hạn hàng tháng của chiếc thẻ mình hay sử dụng nhất, mặc dù các công ty thẻ tín dụng đều ấn định lãi suất cao để răn đe. Gần một phần ba (29%) nói rằng họ không biết lãi suất trên thẻ tín dụng để làm gì. 30% cho rằng lãi suất ấy dưới 10%, trong khi hầu hết các công ty thẻ tín dụng ấn định trên 10%. Hơn phân nửa số người được khảo sát nói rằng ở trường họ “không được học nhiều lắm” hoặc “không được học gì” về tài chính. Một khảo sát năm 2008 cho thấy hai phần ba số người Mỹ không hiểu lãi kép hoạt động thế nào. Trong khảo sát của những nhà nghiên cứu tại School of Management thuộc University of Buffalo, một mẫu học sinh lớp 12 chỉ đạt 52% khi trả lời những câu hỏi về tài chính cá nhân và kinh tế. Chỉ 14% biết rằng sau mười tám năm, đầu tư vào cổ phiếu sẽ sinh lời nhiều hơn là công trái chính phủ. Chưa tới 23% biết rằng thuế thu nhập được thu dựa vào tiền lãi từ tài khoản tiết kiệm nếu như thu nhập của chủ tài khoản đến một mức nào đó. Đến 59% không phân biệt được tiền trợ cấp của công ty, phúc lợi xã hội và quỹ hưu 401 (k). Hiện tượng đó xuất hiện không chỉ ở nước Mỹ. Năm 2006, Cơ quan dịch vụ tài chính Anh quốc đã thực hiện một khảo sát về hiểu biết tài chính trong dân chúng, cho thấy cứ năm người thì một người không biết sức mua của tài khoản tiết kiệm của họ thay đổi thế nào với lạm phát 5% và lãi suất 3%. Cứ mười người thì một người không biết rằng một chiếc TV giá 250 bảng thì giảm giá 30 bảng hay 10% là tốt hơn. Có thể thấy câu hỏi trong những cuộc khảo sát trên là hoàn toàn căn bản. Nói như vậy để thấy rằng chỉ số ít những người được khảo sát có thể giải thích sự khác nhau giữa lựa chọn “mua” và “bán” cổ phiếu, chẳng hạn thế, chưa nói gì đến sự khác nhau giữa một CDO và một CDS.
Giới chính trị gia, người làm trong ngân hàng trung ương và doanh nhân thường đau đầu về sự mù mờ của dân chúng trong chuyện tiền nong, và họ cũng có cái lý. Một xã hội để hầu hết cá nhân tự quản lý khoản chi tiêu và thu nhập sau thuế của mình, để hầu hết những người trưởng thành sở hữu nhà cửa của họ và để họ tự xác định sẽ dành dụm bao nhiêu tiền khi về hưu, có ký bảo hiểm sức khỏe hay không, chắc chắn sẽ tiềm tàng gánh nặng sau này khi công dân của họ không được trang bị đủ để có những quyết định tài chính sáng suốt.
(còn típ)
*) Quỹ hưu 401 (k) ra đời năm 1980 là loại quỹ được sắp xếp sau khi về hưu. Người lao động có thể lãnh hoặc “trích” một phần lương vào quỹ hưu 401 (k). Theo đó họ có quyền chọn sẽ dành dụm bao nhiêu tiền cho mình sau này. Điều khác biệt là khoản tiền lương được trích vào quỹ sẽ không bị áp thuế cho đến khi rút ra.
[...] Phần 3 [...]
ReplyDelete