Phần 1
Đôi khi, sự thăng tiến của đồng tiền có vẻ khựng lại. Năm 2006, sản lượng kinh tế đã đánh giá của toàn thế giới vào khoảng 47 nghìn tỉ đô la. Giá trị tư bản hóa của các thị trường chứng khoán trên thế giới là 51 nghìn tỉ đô la, tăng 10%. Tổng giá trị trái phiếu quốc nội và quốc tế đạt 68 nghìn tỉ đô la, tăng 50%. Tổng dư nợ phát sinh là 473 nghìn tỉ đô la, còn lớn hơn gấp 10 lần. Hành tinh Tài chính đang bắt đầu vắt kiệt hành tinh Trái đất. Và Hành tinh Tài chính cũng có vẻ quay nhanh hơn. Hàng ngày có hai nghìn tỉ đô la được giao dịch trong thị trường hối đoái. Hàng tháng có bảy nghìn tỉ đô la được giao dịch trong thị trường chứng khoán toàn cầu. Hàng phút hàng ngày hàng giờ hàng tuần, mọi người ở mọi nơi đang thực hiện giao dịch. Và những thể thức tài chính mới cũng đang tiến triển. Như năm 2006, khối lượng mua đứt công ty bằng vốn vay (hành động tiếm quyền những công ty hoạt động bằng cho vay) đạt mức $753 tỉ. Sự bùng nổ “chứng khoán hóa”, khi những con nợ cá nhân, chẳng hạn như đối tượng nợ thế chấp, bị “khoanh” lại, gộp lại với nhau và đóng gói lại, nâng tổng số phát hành hàng năm của chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp, chứng khoán bảo đảm bằng tài sản và giấy nợ có thế chấp hóa lên trên 3 nghìn tỉ đô la. Khối lượng phát sinh, tức những hợp đồng bắt nguồn từ chứng khoán, như hoán đổi lãi suất hay hoán đổi vỡ nợ tín dụng (Credit default swaps - CDS) còn tăng cao hơn, khiến đến cuối năm 2007 giá trị ước lượng của các phát sinh “ngoài sở giao dịch” (không kể những giao dịch ngoài dân chúng) là mấp mé 600 nghìn tỉ đô la. Trước thập niên 1980, những thể thức trên hầu như không có mặt. Những tổ chức mới cũng tăng chóng mặt. Quỹ phòng hộ đầu tiên được thành lập vào những năm 1940 và cho đến gần đây, năm 1990 đã có 610 quỹ với 38 tỉ đô la dưới sự quản lý. Con số này hiện nay là hơn bảy nghìn, với 1,9 nghìn tỉ đô la dưới sự quản lý. Số công ty tư nhân cũng tăng gấp nhiều lần, cũng như hệ thống ngân hàng trong bóng tối với những “chân rết” (conduits) và “công cụ đầu tư kết cấu” (SIVs), được thiết lập để đưa những tài sản rủi ro ra ngoài bảng cân đối kế toán. Qua bốn thiên niên kỉ chứng kiến sự thăng tiến của nhân loại nhờ những bậc minh triết, giờ đây chúng ta trải qua sự thăng tiến đó nhờ những người làm ngân hàng.
Năm 1947, đóng góp của khu vực tài chính cho GDP của nước Mỹ là 2,3%; đến năm 2005 tăng lên 7,7%. Nói cách khác, cứ 13 đô la trả cho người lao động ở Mỹ thì khoảng 1 đô la rơi vào túi những người làm tài chính. Thậm chí ở Anh ngành tài chính còn quan trọng hơn, chiếm đến 9,4% GDP năm 2006. Khu vực tài chính cũng là nam châm thu hút học giả tài năng mạnh mẽ nhất. Trở lại năm 1970, chỉ khoảng 5% sinh viên tốt nghiệp trường Harvard nơi tôi giảng dạy đi theo ngành tài chính. Đến năm 1990 con số này đã tăng lên 15%. Đến năm 2007, tỉ lệ này thậm chí còn cao hơn. Theo tờ Harvard Crimson, hơn 20% nam sinh khóa 2007 và 10% nữ sinh mong muốn việc làm đầu tiên của họ là ở ngân hàng. Và ai có thể trách cứ họ? Những năm gần đây, gói lương trong ngành tài chính gần gấp ba tiền lương của sinh viên tốt nghiệp Ivy League làm trong những ngành khác.
Thời điểm sinh viên khóa 2007 tốt nghiệp, rõ ràng không gì có thể ngăn lại sự nổi lên của ngành tài chính toàn cầu. Đó không là những cuộc tấn công khủng bố vào London hay New York. Đó không là cuộc chiến ác liệt ở Trung Đông. Đó càng không phải sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Kể cả sự sụp đổ của Trung tâm thương mại thế giới, sự xâm lược Afghanistan và Iraq, và những biến đổi thời tiết khắc nghiệt, giai đoạn cuối năm 2001 đến giữa năm 2007 đã được khắc họa bằng sự lan rộng không ngừng của ngành tài chính. Thật vậy, hậu quả ngay sau sự kiện 11/9 là chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones đã giảm đến 14%. Tuy nhiên chỉ trong vòng hai tháng, chỉ số này đã lấy lại mức của trước ngày 11/9. Thêm nữa, mặc dù 2002 là năm thất bát với những nhà đầu tư cổ đông, thị trường đã nổi lên sau đó, vượt đỉnh trước kia (đỉnh điểm của cao trào ‘dot com’) là vào mùa thu năm 2006. Đến đầu tháng Mười năm 2007, chỉ số Dow Jones đã đứng ở mức gần gấp đôi mức đáy của năm năm trước đó. Diễn biến đó không chỉ xảy ra với thị trường chứng khoán Mỹ. Trong khoảng năm năm đến ngày 31 tháng Bảy năm 2007, ngoại trừ hai thị trường cổ phiếu trên thế giới tất cả đều đạt mức tăng trưởng hai chữ số hàng năm. Thị trường trái phiếu của các nước đang phát triển tăng mạnh mẽ và thị trường bất động sản, đặc biệt trong số các nước nói tiếng Anh, cũng tăng trị giá vốn đáng kể. Dù đặt canh bạc vào thị trường địa ốc, những tác phẩm nghệ thuật, sản xuất rượu vang hay mạo hiểm hơn là chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản, nhà đầu tư vẫn sinh lời.
Những điều kì diệu đó đã được giải thích thế nào? Theo một trường phái, những đổi mới gần đây nhất trong ngành tài chính đã đem lại tiến bộ cơ bản về hiệu suất đồng vốn trên toàn cầu, cho phép điều phối rủi ro vào những nơi có khả năng chống đỡ tốt nhất. Những nhà tài chính nhiệt tâm cho rằng thời của bất ổn đã qua. Những người làm ngân hàng tự phụ đã tổ chức những cuộc hội thảo với tiêu đề kiểu như “Kỉ nguyên Xuất chúng”. Tháng Mười một năm 2006 tôi đã tham gia một cuộc hội thảo như thế tại một địa điểm vốn sang trọng của Lyford Cay ở quần đảo Bahamas. Trong bài diễn thuyết, tôi cho rằng sẽ không khó để tạo ra một sự suy giảm thanh khoản mạnh mẽ và rồi tác động mạnh vào hệ thống tài chính toàn cầu và chúng ta nên thận trọng khi nghĩ rằng thiên thời địa lợi sẽ kéo dài mãi. Thính giả của tôi đã vô cùng bất mãn. Tôi bị lờ đi như một kẻ gieo hoang mang. Một trong những nhà đầu tư kinh nghiệm nhất ở đó đã đề nghị phía tổ chức rằng “năm sau họ sẽ không mời học giả bên ngoài mà sẽ chiếu bộ phim Mary Poppins”. Tuy nhiên nhắc đến Mary Poppins lại khuấy động kí ức tuổi thơ trong tôi. Người hâm mộ cô đào Julie Andrews sẽ được dịp nhắc lại bối cảnh của bộ phim âm nhạc sống mãi, xảy ra quanh một sự kiện tài chính, mà vào những năm 1960 khi bộ phim ra đời đã có vẻ khác thường: việc chạy tiền ở ngân hàng, tức là việc những người gửi tiền đổ xô đến rút tiền, điều chưa từng thấy ở London kể từ năm 1866.
Cô bảo mẫu Mary Poppin đến làm việc tại gia đình Banks, một cái tên hữu ý. Ông Banks rõ là làm trong ngân hàng, một nhân viên cao cấp dưới quyền của Dawes, Tomes Mousley và Brubbs, thuộc Ngân hàng Xác thực ủy thác. Được ông thúc giục, một ngày nọ những đứa trẻ nhà Banks được cô bảo mẫu mới đưa đến ngân hàng của ông chơi. Tại đây ông Dawes Sr. khuyến khích con trai Michael của ông Banks gửi tiền tiêu vặt (chỉ vài xu lẻ). Thật không may, chú bé Michael muốn lấy tiền mua mồi cho bầy bồ câu ngoài ngân hàng, và đòi ông Dawes “Trả đây! Trả tiền của cháu đây!” Không may hơn, một số khác hàng khác của ngân hàng nghe thấy lời nài nỉ của Michael. Kết quả là họ bắt đầu rút tiền. Không lâu sau một loạt chủ tài khoản cũng làm tương tự, buộc ngân hàng phải hoãn trả tiền. Ông Banks đã thật sự vỡ nợ, than vãn rằng ông bị “rơi vào phá sản và lụi bại ngay thời đỉnh cao của mình”. Cũng những lời trên được nhắc lại ngoài đời bởi Adam Applegarth, người điều hành trước đây của ngân hàng nước Anh Northern Rock, nơi trải qua thảm cảnh tương tự vào tháng Chín năm 2007 khi khách hàng kéo đến lũ lượt bên ngoài những chi nhánh của ngân hàng để rút tiền. Sau đó là thông báo việc Northern Rock đã gửi yêu cầu được “hỗ trợ thanh khoản” đến Ngân hàng trung ương Anh quốc.
(còn típ)
[...] Phần 2 [...]
ReplyDelete