Les premières années de la Cochinchine (1874, Tome I ; Tome II)
Un Voyage au Tonkin (1887)
Nos premières années au Tonkin (1889)
Một số tài liệu trích dẫn ông từ cuốn Histoire de la Cochinchine [có lẽ] là sai, vì người viết cuốn này (1883) là Prosper Cultru. Đây là một trong những cuốn Trần Trọng Kim tham khảo để soạn giai đoạn Pháp thuộc trong Việt Nam sử lược.
Như vậy, cho tới giờ, tớ chỉ tìm được tung tích ba cuốn trên kia của Paulin Vial. Đọc tên là đã thấy thú vị. Tại sao vừa Những năm đầu ở Cochinchine (Nam kỳ) lại vừa Những năm đầu ở Tonkin (hay Tông Kinh, Đông Kinh, tức Bắc kỳ)?
Trước tiên phải làm rõ nghĩa một số từ:
Thống sứ: viên quan người Pháp đứng đầu việc cai trị ở Bắc Kỳ.
Thống đốc: viên quan người Pháp đứng đầu việc cai trị ở Nam Kỳ.
Khâm sứ: viên quan người Pháp đứng đầu việc cai trị ở Trung Kỳ.
Công sứ: viên quan người Pháp đứng đầu việc cai trị một tỉnh ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Khâm sai: chức quan do vua phái đi làm một nhiệm vụ đặc biệt. Chẳng hạn, năm 1945 sau khi Nhật đảo chánh Pháp, vua Bảo Đại bổ nhiệm chính phủ Trần Trọng Kim và Phan Kế Toại giữ chức khâm sai Bắc kỳ. Ông này sau gia nhập Việt Minh.
Theo wikipedia:
Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm đất Nam kỳ, người Pháp tổ chức hệ thống cai trị qua hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, từ 1861 đến 1879, người Pháp thành lập Soái phủ Nam kỳ (Gouvernement des Amiraux) do các đô đốc của Hải quân Pháp đứng đầu, trông coi việc cai trị hành chính và binh bị. Bắt đầu năm 1879, người Pháp đặt chức vụ Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur-général de la Cochinchine) để cai trị mảnh đất thuộc địa này. Chức vụ thống đốc này trực thuộc bộ Thuộc địa và bộ Hải quân Pháp. Sau khi áp đặt chế độ bảo hộ, người Pháp đặt thêm chức vụ Khâm sứ Trung kỳ (Résident supérieur d'Annam) và Thống sứ Bắc kỳ (Résident général du Tonkin). Hai người này trực thuộc bộ Ngoại giao Pháp.
Tháng 2-1886, Paul Bert được cử sang Đông Dương làm Khâm sứ Trung kì và Bắc kỳ (có thể xem cuốn Paul Bert au Tonkin của J. Chailley). Ông này rất giỏi, giáo sư sinh lý học, học ở École và dạy ở Sorbonne. Năm 1881 làm bộ trưởng bộ giáo dục Pháp. Ông chính là người đặt nền móng cho hệ thống giáo dục kiểu Pháp ở Đông Dương.
Theo wiki:
Vào ngày 14 tháng 7 năm 1890, ngày Quốc khánh Pháp, chính quyền Pháp tại Đông Dương quyết định dựng tượng Paul Bert thế chỗ tượng bà đầm xòe. [chính là chỗ tượng đài Lý Thái Tổ bây giờ]
Một số tài liệu nói Paul Bert từng là Toàn quyền Đông Dương (thực ra Klobukowski, con rể ông, đúng là có giữ chức này năm 1908) [có lẽ] là sai vì trong danh sách này không có tên ông. Đọc những tài liệu về Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký thấy nhắc về Paul Bert khá nhiều. Ông mất ngày 11-11-1886 tại Hà Nội vì bệnh dịch tả, chín tháng sau khi đặt chân đến Đông Dương.
Lúc bấy giờ Paulin Vial đang là Công sứ Bắc kỳ, tạm quyền thay ông, nắm chức Thống sứ Bắc kỳ, kiêm nhiệm Thống sứ triều đình Huế. Thời gian này, Paulin Vial viết hai cuốn sách về Bắc kỳ nói trên.
Còn về thời gian ông ở Nam kỳ, có tài liệu nói ông từng làm Giám Đốc Nội Vụ (Nha Bản Xứ Vụ), Súy Phủ Nam kỳ, từ năm 1864-1871. [Súy phủ là phủ của Nguyên súy (nguyên soái)]
Như đã nói, ba cuốn sách của Paulin Vial là nguồn tư liệu rất đáng giá. Những tài liệu về trận Nhật Tảo (do Nguyễn Trung Trực cầm đầu, năm 1861), trận Bến Tre (Phan Thanh Giản, 1967) đều trích dẫn từ cuốn Les premières années de la Cochinchine. Còn đây là một đoạn trong cuốn Nos premières années au Tonkin:
Dans la campagne, surtout dans le delta et auz environs des villes, toute la terre est soigneusement cultivée. Les hommes, les femmes, les enfants sont tous aux champs. Les récoltes succèdent les unes aux autres. Le riz, les haricots, les cannes à sucre, les patates, le mais, le muriers, couvrent d'immenses espaces verdoyants à travers lesquels s'élèvent des bosquets de palmier d'orangers, de goyaviers, couverts de fruits et de fleurs... (trang 312)
Tạm dịch:
Ở đồng quê, nhất là miền trung châu và ở quanh các thành thị, đất đai được canh tác cẩn thận. Đàn ông, đàn bà, trẻ con đều ra đồng. Các mùa kế tiếp nhau. Lúa, đậu, mía, khoai, ngô, dâu bao phủ những khoảng bao la xanh ngắt trong đó vươn lên những khóm dừa cau, cam ổi đầy hoa trái... (trích từ cuốn Văn phạm pháp văn giản yếu, Nguyễn Văn Tạo, nhà Tuấn Tú, 1965)
No comments:
Post a Comment