Liệu còn gì thất vọng hơn là cái cảm giác không làm nên trò trống? Tôi đang nghĩ đến cảnh một đứa trẻ đang khổ sở buộc dây giày, hay thảm kịch của một người đàn ông vừa bị nhẵn túi, cố gắng hiểu chuyện gì xảy ra, tự tìm lấy cơ hội hay đơn giản là tự nuôi sống mình. Chung quy thì những sự thất vọng đó cũng như nhau cả thôi, dù không quá rõ ràng, nhưng riêng rẽ thì đó là những vấn đề hàng ngày mà người ta gặp phải như sự mất phương hướng trong không gian, hay việc không thể theo đúng kế hoạch đã đề ra, hay thất bại ở trường học hay công sở hay trong việc kiểm soát hệ thống xã hội. Trong những trường hợp đó, cuộc sống xoay chuyển từ một quá trình trải rộng cái tôi (ego-expanding) đầy hứng khởi đến một thế giới teo tóp, hạn hẹp khiến ta không đáng phải nỗ lực.
Trong nền văn hóa Mỹ, tùy vào định hướng triết lý mà chúng ta đổ lỗi của những thất bại lên cá nhân hay hệ thống xã hội. Hiếm khi nào chúng ta nhìn vào sự thiếu hiểu biết của mình về bản thân những quá trình hay ấp ủ một ý niệm rằng có lẽ có gì đó sai sót trong thiết kế của những quy lệ [institution] của chúng ta hay sai sót trong cách mà nhân cách cá nhân và văn hóa gặp nhau. Phần lớn sự thất vọng đó bắt nguồn từ thất bại của con người ta trong việc hiểu rõ những biểu hiện [manifestation] hời hợt hơn, dễ thấy hơn của những quy lệ mà họ tạo ra. Nên nhớ rằng người ta có thể sống mà không cần đến kiến thức về sinh lý, nói tốt một ngôn ngữ mà không cần phải biết về ngôn ngữ học hay ngay cả ngữ pháp học đường, hay sử dụng một chiếc TV, điện thoại, xe hơi mà không cần phải biết về điện tử, cơ khí. Cũng như người ta có thể lớn lên và trưởng thành trong một nền văn hóa với hiểu biết lõm bõm về những phép tắc cơ bản làm cho nền văn hóa đó vận hành và khác biệt với những nền văn hóa khác.
Tuy vậy, văn hóa phức tạp hơn rất nhiều so với chiếc TV, xe hơi hay ngay cả sinh lý con người. Vậy người ta làm thế nào ta để biết về cấu trúc chìm [underlying structure] của nền văn hóa? Việc anh tiếp cận ở đâu không mấy quan trọng, miễn là anh tin chắc vào những gì mình quan sát được. Người ta có thể tập trung quan sát bất cứ một hệ thống hay hệ thống con [subsystem] văn hóa cơ bản nào, chẳng hạn như văn hóa vật chất, những quy lệ trong kinh doanh, hôn nhân và gia đình, tổ chức xã hội, ngôn ngữ, và ngay cả quân đội (mọi đội quân đều tuân theo văn hóa của họ), tình dục (tôi có biết một ông từng bị mê hoặc bởi những khác biệt văn hóa trong phim cấp ba), và luật pháp. Những hoạt động đó và nhiều thứ khác đi theo chúng phản chiếu và bị phản chiếu vào văn hóa. Tôi chọn so sánh một số khác biệt theo cách mà luật pháp, như chức năng của nó trong những phiên tòa, liên quan đến vấn đề context trong những nền văn hóa khác nhau.
Tôi chọn luật học để làm rõ vấn đề context vì một số lý do. Thứ nhất, hầu hết pháp luật được thực thi ở Mỹ trở nên quá độc lập với ngữ cảnh [decontexted] trong những diễn giải khi nó được chuyển đổi từ một tác động tốt thành thứ gì đó gần với cờ bạc hơn là hệ thống công lý. Tôi không ngầm ý rằng điều đó luôn xảy ra hay các luật sư và thẩm phán muốn như vậy, mà chỉ là nền văn hóa [Mỹ – ND] nói chung nơi mà pháp luật được thực thi, cũng là nơi mà những quyết định sau cùng bị ảnh hưởng bởi sức nặng của thông lệ [custom], đã tạo nên một cơ cấu [edifice] low-context mà ở đó rất khó đảm bảo rằng những vụ kiện có can hệ gần gũi đến cuộc sống hàng ngày. Hai là, không phải dưới luật pháp thì ai cũng như nhau. Có những sự khác biệt về giới tính, tầng lớp xã hội-kinh tế, quyền lực và sắc tộc. Nhiều người có gốc gác văn hóa không ở Anh hay Bắc Âu mà ở những vùng khác của thế giới, nơi pháp luật cũng rất khác.
Ở Mỹ, điều lý tưởng là chúng ta có chính phủ [thực thi] pháp luật, không phải dân đen, và nhiều người Mỹ nhìn chung ủng hộ điều này. Những người khác, có kinh nghiệm trực tiếp với pháp luật, thì suy nghĩ khác, cho rằng pháp luật Mỹ không chỉ phân biệt đối xử mà còn lạnh lùng, vô cảm và không công bằng. Những luật sư Mỹ mà tôi biết xem pháp luật như thứ gì đó xa rời cuộc sống hàng ngày mà theo họ, đại khái là toàn vẹn hơn. Những luật sư, theo cách nhìn của họ, có một cách nghĩ khác biệt với người thường. Richard Nixon, khi còn là phó tổng thống, từng nói, “Vâng, để tôi giải quyết ông ấy. Ông ta cũng là luật sư mà.”
Nhiều khi giới luật sư khiến người ta cảm giác rằng pháp luật có điều gì đó đặc biệt. Với văn hóa Mỹ, điều đó đúng. Tuy nhiên, điều đó đúng bởi văn hóa là thế, chứ không phải là pháp luật. Văn hóa ẩn dưới pháp luật, và nhiều thứ [thuộc về văn hóa – ND] có thể đọc được và thông hiểu qua việc xem xét cách pháp luật được sử dụng. Cũng như nhiều mặt khác của nền văn hóa [Mỹ - ND], pháp luật được thiết kế nhằm hoạt động tách rời với phần còn lại của cuộc sống. Việc không chấp nhận những lời khai dựa vào ngữ cảnh, như tôi nghe nói thế lọ thế chai, làm cho những phiên tòa của chúng ta [Mỹ - ND] trở nên tách biệt và thường là làm chúng khắc nhiệt, vô nhân đạo và vô cảm tính. Bị cáo, theo như Ralph Slovenko, giáo sư luật và tâm thần học, phải tuân theo “opinion rule”. Theo opinion rule, chỉ những sự kiện [fact] được thiết lập, đứng ngoài tất cả những dữ liệu của ngữ cảnh nền, mới có thể được xem là bằng chứng. Biết bao nhiêu lần người ta nghe, “Trả lời câu hỏi đê, Có hay là Không.” Những lời như vậy cho thấy tòa án ở Mỹ là một ví dụ của hệ thống low-context. Những ai quan tâm đến ý nghĩa sâu hơn của luật so sánh [comparative law] và thích tìm điểm giống và khác nhau cũng sẽ có cảm giác tương tự với các hệ thống low-context khác qua việc nghiên cứu hệ thống pháp luật của Mỹ, trên thực tế chứ không phải trên lý thuyết, vận hành như thế nào.
Một trong những thiếu sót của hệ thống low-context, đặc biệt là trong những xã hội phức tạp, là càng phình to chúng càng trở nền cồng kềnh. Hơn nữa, xã hội low-context được thao tác mở, do vậy người ta hoàn toàn có thể xây dựng một pháp luật mà họ muốn bằng cách tác động một cách hệ thống lên các tiền lệ qua những phiên tòa có ảnh hưởng rộng. Một lần nữa chúng ta lại cần phông màn so sánh của một xã hội high-context để xem xét điều nói trên một cách đúng đắn, bởi trong những xã hội high-context không có chuyện những tiền lệ được thao tác một cách ý thức. Hệ thống low-context không tạo ra sự đối xử công bằng nhưng dành sự ưu ái cho những ai có được những luật sư thông thạo và lành nghề ở phía họ. Hơn nữa, nếu những hệ thống này vận hành trơn tru, chúng hẳn sẽ có được những bồi thẩm đoàn có kĩ năng cao, sáng suốt, những người đủ thông minh và hoài nghi để đưa yếu tố ngữ cảnh vào hệ thống ấy – để tìm ra những gì đã thực sự diễn ra, chứ không chỉ là những gì mà những luật sư và nhân chứng đã nói.
(còn tiếp)
Dịch từ Chapter 7: Context, High and Low, Beyond Culture, Edward T. Hall, 1977.
No comments:
Post a Comment