Về Iliad của Homer và Ransom của David Malouf
Định đề ở đây cũng đơn giản như trong câu đầu tiên chương Genesis của Kinh thánh [First God made heaven and earth], và còn khả tin hơn: từ thuở sơ khai, Homer đã sáng tạo ra văn chương. Ông đã làm việc đó, tức là nếu chỉ có một mình, với hai chiều phóng chiếu, hai thi phẩm nhìn về những tương lai văn chương khác nhau. The Iliad là bản anh hùng ca ban sơ của nhân loại, ngợi ca sự chiến đấu anh dũng và sự vẻ vang của trận đánh. The Odyssey bắt đầu khi trận chiến thành Troy đã kết thúc và kể về những hiểm nguy sau đó, đồng hành với nhân vật chính trong cuộc hành trình về quê hương, gợi ra một lựa chọn khác cho thể loại lãng mạn, kiểu không cần phải ngưng truyện khi nhân vật chết như hay thấy trong anh hùng ca mà mở ra trước biến cố và việc du hành, cho phép sự thám hiểm không giới hạn. Bởi vậy, những người viết sau này đã dành những dòng footnote về Homer, dù là tóm lược đầy ngờ vực cuộc chiến thành Troy như một vở kịch phóng đãng, như Shakespeare trong Troilus and Cressida, hay ngốn cả chuyến đi khắp Địa Trung Hải dài hàng mười năm của Odysseus vào chỉ một ngày ở Dublin, như Joyce đã làm với Ulysses.
Việc người viết chọn thi phẩm nào của Homer phụ thuộc vào thái tính của thời gian đó. Những người du hành của thể loại lãng mạn ở thế kỉ mười chín thích viết về The Odyssey. Khi ghé thăm một khu vườn ngát hương ở đảo Sicily, Goethe nói rằng với ông lần đầu tiên thi phẩm này trở thành một “sự thực sống động”. Khi vượt biển Thái Bình Dương, Robert Louis Stevenson thường nhớ lại những điểm dừng chân yên bình của Odysseus trên những hòn đảo nơi anh được những nữ thần xinh đẹp chào đón. Trong bài thơ Ulysses của Tennyson, người anh hùng nguyện sẽ phiêu bạt mãi mãi, không chấp nhận sự vô vị đến cùng cực khi dừng lại đâu đó hay trở về nhà. Nikos Kazantzakis, trong một tiếp đoạn hiện đại đầy tham vọng của The Odysses mà ông bắt đầu viết năm 1924, đã đưa Odysseus rời khỏi cảnh yên bình ở quê nhà Ithaca để trải nghiệm một thế giới đặt ngoài tầm với của Homer. Nhân vật rời khỏi nơi chôn rau cắt rốn Địa Trung Hải, theo dòng sông Nile đi lên thượng nguồn, thám hiểm đến tận châu Phi và tiếp tục nam tiến cho đến khi chàng chết ở Nam Cực. Chuyến hành trình của chàng đã được linh động hóa bởi mặc dù trong dự định có cả việc tìm gặp Giê-su và Phật tổ, khát khao khám phá đó khó có thể hoàn tất trong một đời người.
Vào thời điểm Kazantzakis hoàn thành một sequel của The Odysses vào năm 1938, The Iliad trở nên gắn kết tốt hơn với cái thế giới hỗn mang, đầy hiểm nguy này. Những cuộc chiến của thế kỉ hai mươi được đặt ra dưới cái bóng của bản anh hùng ca của Homer. Rupert Brooke đã ngâm lại The Iliad khi ông mất trên một tàu lính đến chiến đấu ở bán đảo Gallipoli, và lường trước trong đê mê rằng cái chết sẽ làm tên tuổi ông sống mãi. Có người thì chọn hy sinh cảm tử. Còn nhà thơ Wilfred Owen, dưới những chiến hào, thì có vẻ như đang lang thang qua thế giới bên kia đầy chất Homer, chuyện trò với những người lính đã mất. Cũng giỏi tiên đoán như Cassandra trong thần thoại Hy Lạp, trong một tiểu luận về The Iliad xuất bản năm 1939, Simone Weil đã nhìn ra cuộc xung đột toàn cầu kế tiếp được nhắc đến: khi cỗ xe ngựa lạch cạch chạy vào thành Troy bị vây hãm, Homer đã đoán trước về một kỉ nguyên vũ trang được dẫn dắt bởi những máy móc nặng nề, những con quái vật thời công nghiệp nhằm đưa loài người trở về thời xác ướp.
Giờ đây sự suy tư của David Malouf trong cuốn tiểu thuyết Ransom về một chương nhỏ của The Iliad đem lại cho bản anh hùng ca một sự liên hệ mới. Khi nhân vật Faustus của Marlowe khiến ta nghĩ đến nàng Helen, người bị Paris bắt cóc về trở thành nguyên nhân gây chiến tranh, Malouf lại ngạc nhiên trước bộ mặt đã dựng nên một đội quân hùng hậu và “đốt những tòa tháp cao ngất ngưởng của Ilium [tên khác của thành Troy]”. Cách đây chưa đầy một thập kỉ chúng ta đều đã chứng kiến tòa tháp đôi cao chọc trời chìm trong khói lửa và chúng ta hẳn còn nhớ – cũng sừng sững như những cột trụ thành Troy, mà Malouf đã nhắc lại trong Ransom – chúng đã sụp đổ thành tro bụi, ngổn ngang những trụ thép và vương vãi xác người. Thật lôi cuốn khi được thấy thành Troy của Malouf mà ông đã viết “a city of four square towers topped by untidy storks’ nests”, cũng như cách tòa Trung tâm thương mại thế giới ngạo nghễ tượng trưng. Hai tòa tháp ở hạ Manhattan thì khác ở chỗ, chúng có những cột ăng ten truyền thông ở bên trên cũng lộn xộn không kém.
Bộ phim Troy (2004) của đạo diễn Wolfgang Petersen, được làm vài năm sau sự kiện 11 tháng Chín, lần đầu tiên đánh giá lại Homer dưới cái nhìn về ngày thảm họa ấy. Theo cách của Petersen, cuộc chiến Trojan là kết quả của sự ngang tàng hống hách của Agamemnon; còn việc Menelaus, chồng Helen, bị cắm sừng là tiền đề, cũng như cái cớ giả tạo về thảm họa bệnh than mà Colin Powell đã đưa ra trước Liên hiệp quốc. Thành Troy bị đánh bất ngờ, hoảng loạn và bị tàn phá đúng như kế hoạch, nhưng những chiến binh Hy Lạp trong phim của Petersen cũng quá thắng lợi đáng để kiêu hãnh. Mà thật ra Homer cũng từ chối làm người biện hộ trung thành của họ: ông không dành hết sự ngợi ca cho đội quân quê nhà mà ca ngợi đầy thương cảm sự hi sinh của kẻ thù. Malouf cũng công bằng một cách sáng suốt. Ông chọn một đoạn trong câu truyện và kể về nó dưới quan điểm của vị vua Trojan bất hạnh Priam, đồng thời giải thích động cơ quân Hy Lạp tham chiến. Achilles đã giết hoàng tử Trojan, Hector, để trả thù cho người mình thương yêu bị giết, Patroclus. Sau đó chàng đày đọa thi thể Hector bằng cách kéo xác quanh bức tường của thành phố bị bao vây; tiền chuộc (ransom) trong tên cuốn tiểu thuyết là gia tài mà Priam đưa cho Achilles với hy vọng chuộc lại được tấm thây bị đày đọa của con trai nhà vua. Mặc dù Priam là anh hùng sa cơ nhưng bằng cách xử lý khéo léo với ngôn từ, Malouf đã xác minh và lý giải sự đau khổ của Achilles, người đang “chờ đợi một cơn thịnh nộ dành cho mình để bù đắp cho sự lăng nhục mà chàng đã làm”. Đằng sau mọi sự lăng nhục, dù là chà đạp thân xác của một người hay sự đánh sụp hai ngọn tháp với bao người, là một cơn thịnh nộ chực bùng phát. Chúng ta đã làm tốt việc đánh thức sự đau khổ của những kẻ mang bom cảm tử.
(còn típ)
[...] Phần 1 [...]
ReplyDelete