10 May 2009

Trở Lại Cuộc Chiến Thành Troy [P.3]

Phần 2

Priam trong truyện của Malouf đã bỏ qua những điềm báo ấy. Ông đáng nhận một sự mạo hiểm, và ông đã vượt qua được, bởi thứ ông nhận được không phải là điều khiếp sợ mà Hecuba đã cảnh báo mà là thứ quyền lực đạo đức mới, đưa con người trở về mặt đất, che mắt họ lại và cả cản trở cơn giận dữ giết chóc của Achilles. Thỏa hiệp là bản chất của con người, và đi cùng với nó là cảm giác của chúng ta về tính có thể hoán đổi. Achilles trong phim của Petersen, trong khoảnh khắc thống thiết nhất của bộ phim, nức nở trước thây của Hector và gọi Hector là “người anh em” bởi biết rằng họ sẽ sớm gặp nhau ở thế giới bên kia. Achilles trong tuyện của Malouf thì yếu đuối vì một lý do khác. Chàng nhầm Priam với Peleus, người cha đã mất, và gục xuống đầu gối của ông ta mà khóc. “Hãy bước bằng sự cẩn trọng”, chàng không thể tiếp tục cư xử phi nhân tính.


Vở thần thoại lại trở về với cái vốn có của nó: sau lễ tang trang trọng dành cho Hector, chúng ta có thể thấy trước một kết thúc mà ngay cả Malouf cũng không thể thay đổi được, đó là cái chết của Achilles; sự xuất hiện của người con trai Neoptolemus để trả thù cho Achilles; cuộc tàn sát trên đất của Priam; sự sụp đổ của bốn cây cột lừng lững của thành Troy. Nhưng đọan mở đầu trong truyện của Malouf liên quan đến câu hỏi về những giá trị của bản anh hùng ca, vốn cho phép những nhà thơ tôn vinh bạo lực bằng cách ca tụng “vũ khí và người lính [arms and the man]”, và liên quan đến việc đề ra một chức năng thay thế cho văn học. Bỏ qua đặc ân của nhà vua và chạy đến lán của quân Hy Lạp trên một cỗ xe thô sơ kéo bởi những con la, Priam từ chối trở thành thứ người tự sùng bái mình, như Walter Benjamin lên án. Trong lời thỉnh cầu của ông với Achilles, ông bắt đầu chối bỏ đức tin vào chúa trời toàn năng, những người nhìn từ trên xuống coi loài người như sinh linh nhỏ bé. Những đấng bất tử, ông nói với Achilles, không thể hiểu con người đang suy nghĩ gì. Loài người hiểu rằng rồi họ sẽ chết, và rằng sự hiểu biết nên dẫn dắt họ đến chỗ thông cảm lẫn nhau, tạo nên một lý do chung cho sự buồn khổ của họ.

Priam đã đưa ra một lý do khác cho bi kịch, không còn là một tiếc thương cho mất đi của một nhân cách lớn, như cách nghĩ của người Hy Lạp nghĩ; mà là nỗi buồn đau chung của tất thảy con người. Ông cũng đã dự đoán về mục đích thấu cảm của văn chương, cho phép chúng ta có mặt trong tâm trí và thể xác của những người khác mình, trải nghiệm niềm hân hoan và chia sẻ nỗi buồn đau của họ. Khi còn trẻ, bản thân Priam được chuộc khỏi tầng lớp nô lệ. Mặc dù ông đã thoát khỏi sự lao dịch và nỗi thống khổ của lớp người nô lệ, ông có thể tưởng tượng được cảm giác của nó như thế nào. “Cuộc sống ấy tôi cũng đã từng trải qua,” ông nói. Việc của tiểu thuyết gia là viết về mối phân thân đó, cũng là món quà nhân bản mà dành cho tất cả chúng ta.

Trong An Imaginary Life nhân vật Ovid của Malouf ước đoán rằng con người không ngừng hóa thân để một ngày nào đó sẽ trở thành chúa trời. Đó không là một kết cục được chỉ ra trong Ransom, mặc dù cuốn tiểu thuyết đã làm một cú nhảy quãng bất ngờ từ chủ nghĩa nhân bản cổ điển đến phép màu [miracle] Thiên Chúa khi cơ thể bị giày xéo của Hector, được đưa trở lại cho Priam với tất cả vết thương được chữa khỏi một cách kì diệu, còn nguyên vẹn trong tấm vải liệm bằng lanh – một thoáng hiện một sự Phục sinh sắp tới, hay đơn giản chỉ là một bút pháp của người viết muốn thử làm một hiện thực gia đầy ma thuật? Tiền chuộc mà Priam đặt cho Achilles cũng là một dạng của sự chuộc tội, sự xóa bỏ ân oán; mặc dù Malouf không thích hợp với Chúa trời cynical của Homer, có lẽ ông vẫn đồng tình với một Chúa trời cũng yêu thế giới như một tiểu thuyết gia. Dù vậy, Ransom không phải là một cuốn sách được viết lại (hay ít nhất tôi hy vọng không phải vậy). Tôn giáo bên trong nó chính là văn chương, và sự bất tử duy nhất nó gán đến là những truyện kể như thi phẩm của Homer, “they are revived whenever they are retold”.

Tuy nhiên, Malouf có lẽ nên đánh giá cao hơn tầm ảnh hưởng về mặt văn chương của Thiên chúa giáo, đã đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa anh hùng cổ điển, bình đẳng tất cả mọi người, và nhất quán trên cái đẹp của sự khiêm nhường, sự nguyên thủy, sự thật nhem nhuốc. Sự cải tính của Priam là hết với sự có mặt của người đánh xe đã chở ông đến gặp Achilles: như trong kịch của Shakespeare, vị vua lắng nghe lời trầm tư của một kẻ phỉnh gạt, hay của một bầy tôi hèn mọn. Khi họ ngừng để nghỉ ngơi, ăn uống và ngâm chân vào bồn nước nóng, người phu nói với Priam rằng họ đều là “những đứa con của tự nhiên… của trái đất, cũng như của chúa trời”.

Trong lúc nghỉ chân bên dòng suối, cá cù vào kẽ chân của Priam, ruồi bu vào tấm thân nhễ nhại của ông, ve sầu kêu réo và những chiếc là rơi la đà trong không khí. Priam nghe được người phu nói bâng quơ về nơi họ đang sống như một “thế giới tầm phào”, một vỏ não lởn vởn bởi những sự kiện tản mác, xao lãng. Đó là một thay đổi to lớn về nhận thức, có thể sánh với của Virginia Woolf coi kinh nghiệm như là một “blitz of atoms” trong tiểu luận Modern Fiction của bà. Những anh hùng ca kể về những câu chuyện vĩ đại nhất: sự sụp đổ của thành Troy, sự sụp đổ của con người. Nhưng trong Troy của Malouf, cũng như bất kì kinh thành thời hiện đại nào, những kẻ láng giềng gây chiến với nhau vì “những sự sỉ nhục nhỏ nhặt nhất”. Những cuốn tiểu thuyết thì đầy rẫy sự nhỏ nhặt, và người viết biết cách nhặt nhạnh ý nghĩa trong những điều nhỏ nhặt và những hồi tưởng tản mác. Hecuba nhắc về đứa con Troilus chậm biết đi, và nhắc lại với Priam rằng bà có thai Hector trong 18 giờ. Một anh hùng ca sẽ bỏ qua những tình tiết ấy, nói nhiều hơn đến thời trưởng thành anh hùng của đứa con trai bà; nhưng với tiểu thuyết gia, những chuyện tầm phào giai thoại là chìa khóa mở ra những chuyện bí sử nhất và gây rung động nhất.

Có một tuyên ngôn văn chương trong việc nhiều lần sử dụng những tính từ lặp lại của Malouf. Trong thế kỉ mười tám tiểu thuyết được xem như một thể loại mới bởi nó có thể phá bung những niêm luật cổ điển. Còn hơn cả những phát minh kỹ nghệ, tiểu thuyết nung nấu những cách tân đạo đức khi nó bỏ mặc những cơn giận dữ của một kẻ hiếu chiến như Achilles và thay vào đó đi sâu cuộc đời trầm lặng của những người, như Dorothea Brooke trong Middlemarch, yên nghỉ trong “những nấm mồ không người viếng”. The Iliad kết thúc với lễ tang long trọng của Hector, kéo dài mười ngày. Nhưng gần kết thúc của Ransom, Achilles được nhắc lại với cảnh anh thấy mình chìm trong “những suy nghĩ phi anh hùng” trước lễ tang của Hector. Chỉ có tiểu thuyết là có thể khoét sâu vào thế giới riêng tư, tối mật đó.

Mặc dù Homer đã khám phá ra văn chương, đó chỉ là dạo đầu. Ông đã để cho những người viết hậu thế một nghĩa vụ sáng tạo lại nó, điều chỉnh cho phù hợp với những hiện thực mới. Trong Ransom, một Malouf thấy tất và biết tất một cách khiêm nhường đã làm thực hiện đúng điều đó.

Dịch từ Homer’s Iliad & David Malouf’s Ransom, Peter Conrad, The Monthly, May 2009.

No comments:

Post a Comment